Hệ gan mật đóng vai trò quan trọng trong tiêu hóa, chuyển hóa và đào thải chất thải. Khi gan, túi mật hoặc đường mật bị tổn thương, dòng chảy của dịch mật và khả năng xử lý dưỡng chất có thể bị ảnh hưởng. Trên thực tế bệnh thường tiến triển âm thầm, biểu hiện ban đầu không rõ ràng nên dễ bị bỏ qua, đến khi xuất hiện các dấu hiệu bệnh gan mật như vàng da, mệt mỏi kéo dài, chán ăn hay rối loạn tiêu hóa thì chức năng gan mật có thể đã bị ảnh hưởng đáng kể. Cùng ECO Pharma tìm hiểu triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị bệnh ngay sau đây.

Bệnh gan mật là nhóm bệnh lý ảnh hưởng đến hệ thống gan, túi mật, đường mật, ống dẫn mật và đôi khi liên quan đến tuyến tụy. Các rối loạn này có thể bao gồm viêm, nhiễm trùng, u nang, tắc nghẽn, ứ mật hoặc khối u bất thường làm cản trở quá trình tiêu hóa chất béo, hấp thụ chất dinh dưỡng, chuyển hóa và đào thải chất thải của cơ thể.
Hệ gan mật gồm ba thành phần chính là gan, túi mật và đường mật. Gan là cơ quan lớn nằm ở vùng bụng trên bên phải, đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng như sản xuất dịch mật, chuyển hóa dinh dưỡng, dự trữ năng lượng dưới dạng glycogen, lọc bỏ độc tố trong máu và tổng hợp protein giúp đông máu.
Túi mật là cơ quan nhỏ nằm dưới gan có nhiệm vụ lưu trữ mật để hỗ trợ tiêu hóa chất béo. Trong khi đó đường mật đóng vai trò dẫn mật từ gan và túi mật xuống ruột non để tham gia vào quá trình tiêu hóa. Khi một trong các bộ phận này gặp vấn đề, quá trình tiêu hóa và chuyển hóa sẽ bị rối loạn dẫn đến nhiều triệu chứng bệnh gan mật và biến chứng nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời. (1)
Bệnh gan mật gồm nhiều nhóm bệnh khác nhau, tùy thuộc vào cơ quan bị ảnh hưởng trong hệ gan, đường mật và túi mật.
Nhóm bệnh về gan bao gồm các rối loạn ảnh hưởng trực tiếp đến tế bào gan và chức năng chuyển hóa, thải độc của cơ thể. Các bệnh thường gặp:

Gan còn có thể xuất hiện các tổn thương như u gan lành tính hoặc các dạng khối u ác tính khác, làm suy giảm chức năng gan.
Nhóm bệnh đường mật liên quan đến hệ thống ống dẫn mật từ gan xuống ruột non, có vai trò vận chuyển dịch mật để hỗ trợ tiêu hóa chất béo và đào thải một số chất cặn bã.
Túi mật có chức năng lưu trữ và cô đặc dịch mật để hỗ trợ tiêu hóa chất béo. Các bệnh tại đây thường liên quan đến sỏi, viêm hoặc khối u.

Bệnh gan mật có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm yếu tố nhiễm trùng, lối sống và cả di truyền. (2)
Virus là một trong những nguyên nhân quan trọng gây tổn thương gan mật, đặc biệt là các virus viêm gan A, B, C, D và E. Những tác nhân này có thể gây viêm gan cấp hoặc mạn tính làm tế bào gan bị tổn thương kéo dài và tăng nguy cơ xơ gan, suy gan hoặc ung thư gan.
Ngoài ra nhiễm trùng đường mật do vi khuẩn cũng có thể xảy ra nhất là khi có sỏi hoặc tắc mật khiến người bệnh xuất hiện sốt, đau hạ sườn phải và vàng da. Nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan cũng tăng lên khi tiếp xúc với máu nhiễm bệnh, chẳng hạn qua dùng chung kim tiêm, dao cạo, dụng cụ cá nhân có dính máu hoặc truyền máu không an toàn.
Các rối loạn chuyển hóa và thói quen sinh hoạt thiếu lành mạnh ảnh hưởng rõ đến sức khỏe gan mật. Uống nhiều rượu bia trong thời gian dài có thể gây gan nhiễm mỡ do rượu, viêm gan do rượu và xơ gan. Bên cạnh đó ăn nhiều chất béo, ít vận động, hút thuốc lá và căng thẳng kéo dài cũng làm tăng nguy cơ rối loạn chức năng gan, mật, hình thành sỏi mật.
Hơn nữa béo phì, đái tháo đường và hội chứng chuyển hóa thường đi kèm với gan nhiễm mỡ không do rượu, bệnh lý sỏi mật. Tuổi càng cao, khả năng chuyển hóa và hoạt động của hệ gan mật cũng có xu hướng suy giảm, khiến nguy cơ mắc bệnh tăng hơn theo thời gian.
Sỏi có thể xuất hiện ở túi mật hoặc đường mật, làm cản trở dòng chảy của mật và gây ra các biểu hiện như đau bụng, vàng da, ngứa, đầy bụng khó tiêu hoặc nhiễm trùng đường mật. Ngoài sỏi tắc mật còn có thể gặp trong các trường hợp hẹp đường mật, khối u hoặc rối loạn vận động túi mật. Khi mật bị ứ kéo dài, không chỉ đường mật bị ảnh hưởng mà chức năng gan cũng có thể suy giảm theo thời gian.
Gan là cơ quan chính xử lý và thải độc nên rất dễ bị tổn thương bởi các chất độc hại. Một số loại thuốc và hóa chất có thể gây hại cho gan nếu sử dụng kéo dài, dùng quá liều hoặc không đúng chỉ định. Các thuốc có nguy cơ gây độc gan thường bao gồm thuốc giảm đau, thuốc kháng sinh, thuốc nội tiết và một số thảo dược, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc. Trong đó thuốc nội tiết hoặc thuốc tránh thai nội tiết cũng có thể làm tăng nguy cơ hình thành sỏi mật ở một số đối tượng.
Bên cạnh đó việc tiếp xúc thường xuyên với hóa chất công nghiệp, độc chất môi trường hoặc uống nhiều rượu bia cũng có thể làm gan bị tổn thương, ảnh hưởng đến khả năng giải độc và chuyển hóa bình thường.
Một số bệnh gan mật liên quan đến yếu tố di truyền hoặc rối loạn hệ miễn dịch. Các bệnh như Wilson, hemochromatosis hoặc thiếu hụt alpha-1 antitrypsin hay teo đường mật bẩm sinh có thể làm suy giảm chức năng gan. Ngoài ra các bệnh tự miễn như viêm gan tự miễn hoặc xơ gan mật nguyên phát xảy ra khi hệ miễn dịch tấn công chính tế bào gan và đường mật. Bên cạnh đó các bệnh viêm ruột như Crohn hay viêm loét đại tràng cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gan mật thường tiến triển âm thầm và cần được theo dõi lâu dài.

Tuỳ thuộc vào từng loại bệnh cũng như mức độ tổn thương mà dấu hiệu bệnh gan mật sẽ khác nhau. Nhận biết sớm giúp phát hiện bệnh kịp thời và hạn chế biến chứng nguy hiểm.
Ở giai đoạn đầu, dấu hiệu bệnh chưa rõ, dễ nhầm với rối loạn tiêu hóa thông thường. Người bệnh có thể cảm thấy mệt mỏi kéo dài, suy nhược cơ thể, chán ăn, đầy bụng, khó tiêu, buồn nôn hoặc khó chịu vùng bụng. Một số trường hợp còn có cảm giác uể oải, giảm sức làm việc hoặc sụt cân nhẹ nhưng không rõ nguyên nhân.
Khi chức năng gan hoặc dòng chảy của mật bị ảnh hưởng rõ, người bệnh có thể xuất hiện những dấu hiệu điển hình hơn như vàng da, vàng mắt do bilirubin tăng trong máu. Bên cạnh đó nước tiểu có thể sẫm màu hơn bình thường, trong khi phân trở nên nhạt màu hoặc màu đất sét. Ngoài ra ngứa da kéo dài cũng là biểu hiện khá đặc trưng, liên quan đến tình trạng ứ mật trong cơ thể.
Các bệnh liên quan đến túi mật và đường mật thường gây triệu chứng rõ ở vùng bụng. Điển hình như đau vùng hạ sườn phải hoặc vùng bụng trên; cơn đau có thể lan ra lưng hoặc vai phải; buồn nôn và nôn; đầy bụng, khó tiêu, đặc biệt sau ăn nhiều dầu mỡ. Những triệu chứng này thường gặp trong sỏi mật, viêm túi mật hoặc tắc nghẽn đường mật.
Một số dấu hiệu cho thấy bệnh đã tiến triển nặng và cần được can thiệp y tế ngay.
Những biểu hiện này cho thấy chức năng gan bị suy giảm nghiêm trọng và có nguy cơ biến chứng nguy hiểm nếu không điều trị kịp thời.
Xem thêm: Cảnh giác với các bệnh gan mật ở trẻ em thường gặp
Chẩn đoán bệnh gan mật cần kết hợp nhiều phương pháp để đánh giá chính xác chức năng gan và phát hiện tổn thương.
Bác sĩ sẽ khai thác triệu chứng, thời gian xuất hiện bệnh, tiền sử viêm gan, uống rượu bia, dùng thuốc và các yếu tố nguy cơ liên quan. Đồng thời, thăm khám lâm sàng giúp phát hiện những dấu hiệu gợi ý bệnh gan mật như vàng da, vàng mắt, đau vùng hạ sườn phải, gan to, cổ trướng hoặc phù chân.
Xét nghiệm máu giúp đánh giá chức năng gan, túi mật và đường mật. Thông qua các chỉ số như men gan (AST, ALT), bilirubin, albumin, thời gian đông máu và xét nghiệm chức năng gan (LFT), bác sĩ có thể nhận biết tình trạng viêm, tổn thương tế bào gan, ứ mật hoặc suy giảm chức năng gan.
Ngoài ra xét nghiệm máu còn hỗ trợ tầm soát viêm gan virus, phát hiện dấu hiệu nhiễm trùng và theo dõi tiến triển bệnh theo thời gian. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định thêm xét nghiệm miễn dịch hoặc dấu ấn ung thư để làm rõ nguyên nhân và mức độ tổn thương gan mật.
Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh giúp quan sát trực tiếp cấu trúc gan, túi mật và đường mật, từ đó phát hiện sỏi, viêm, tắc mật hoặc khối u. Một số phương pháp thường được chỉ định gồm:

Phương pháp điều trị dựa trên nguyên nhân và mức độ tiến triển của bệnh, thường kết hợp giữa thuốc, can thiệp y khoa và thay đổi lối sống.
Điều trị nội khoa thường được áp dụng trong các trường hợp bệnh chưa có biến chứng nặng hoặc cần kiểm soát triệu chứng và nguyên nhân nền. Tùy từng bệnh lý, bác sĩ có thể chỉ định thuốc kháng virus để điều trị viêm gan B, C mạn tính; thuốc chống viêm để giảm tình trạng viêm ở gan; hoặc acid mật trong một số bệnh lý như viêm đường mật nguyên phát. Ngoài ra người bệnh có thể được dùng thêm thuốc giảm đau, thuốc chống buồn nôn, thuốc hỗ trợ chức năng gan hoặc thuốc kiểm soát ngứa do ứ mật. Việc dùng thuốc cần đúng chỉ định để tránh làm gan tổn thương thêm.
Khi bệnh gan mật liên quan đến sỏi, tắc mật, khối u hoặc tổn thương nặng, bác sĩ có thể chỉ định các phương pháp can thiệp hoặc phẫu thuật như:

Thay đổi lối sống đóng vai trò quan trọng trong điều trị và phòng ngừa bệnh tái phát. Người bệnh nên tránh uống rượu bia, ưu tiên chế độ ăn lành mạnh, hạn chế chất béo bão hòa, đồ chiên rán và thực phẩm chế biến sẵn để giảm gánh nặng cho gan, mật; Bên cạnh đó, duy trì cân nặng hợp lý, tăng cường bài tập vận động phù hợp và sinh hoạt điều độ cũng giúp cải thiện rối loạn chuyển hóa, giảm mỡ trong gan, hạn chế nguy cơ hình thành sỏi mật.
Các sản phẩm thảo dược hoặc phương pháp hỗ trợ khác chỉ nên sử dụng khi có hướng dẫn chuyên môn.
Bệnh cần được theo dõi định kỳ để đánh giá đáp ứng điều trị và phát hiện sớm biến chứng. Người bệnh nên tái khám đúng hẹn, làm xét nghiệm và kiểm tra hình ảnh khi cần để theo dõi chức năng gan mật, đánh giá tiến triển bệnh; Nếu xuất hiện vàng da tăng dần, đau bụng nhiều, sốt, phù hoặc bụng to nhanh, cần đi khám sớm. Đồng thời, những người thuộc nhóm nguy cơ cao nên tầm soát ung thư gan định kỳ để phát hiện sớm.
Bệnh gan mật là nhóm bệnh lý có thể tiến triển âm thầm nhưng để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được phát hiện và kiểm soát kịp thời. Nhận biết sớm các dấu hiệu bất thường, chủ động thăm khám và tuân thủ điều trị giúp bảo vệ chức năng gan mật. Đồng thời, duy trì lối sống lành mạnh, xây dựng chế độ ăn uống hợp lý và kiểm soát tốt các yếu tố rủi ro sẽ góp phần phòng bệnh hiệu quả, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống về lâu dài.