Tăng sắc tố da do thuốc là hiện tượng da sẫm màu hoặc xuất hiện các mảng thâm sau quá trình sử dụng một số loại thuốc. Tình trạng này khá thường gặp trong da liễu và dễ bị nhầm với nám hoặc tăng sắc tố sau viêm. Để hiểu rõ hơn về nguyên nhân và mức độ xuất hiện của hiện tượng tăng sắc tố do thuốc uống, mời bạn đọc cùng ECO Pharma tìm hiểu chi tiết trong bài viết sau.

Tăng sắc tố da do thuốc uống là hiện tượng khá phổ biến, xảy ra khi sắc tố melanin trong da tăng lên bất thường hoặc cấu trúc sắc tố bị biến đổi dưới tác động của thuốc và các chất chuyển hóa. Một khảo sát được thực hiện tại Tây Ban Nha ghi nhận tình trạng này chiếm khoảng 1,31% lượt khám da liễu mới (1). Các nghiên cứu tổng quan cũng ghi nhận rối loạn sắc tố do thuốc chiếm đến 20% các trường hợp tăng sắc tố mắc phải ở người trưởng thành. (2)
Tình trạng này xảy ra khi thuốc tác động lên tế bào sắc tố khiến melanocyte hoạt động mạnh hơn hoặc tạo ra các phức hợp melanin – thuốc lắng đọng trong da. Một số thuốc còn chứa kim loại như sắt hoặc bạc có thể tích tụ ở trung bì và gây nên màu sắc xanh xám hay nâu đen đặc trưng. Bên cạnh đó phản ứng viêm da hoặc kích ứng trong quá trình điều trị cũng góp phần làm da sẫm hơn do tăng sắc tố sau viêm. Những thuốc gây nhạy cảm ánh sáng càng làm tình trạng rõ rệt hơn khi người bệnh tiếp xúc tia UV, đặc biệt tại vùng da hở. (3)
Sự thay đổi sắc tố da có thể gặp ở nhiều nhóm thuốc khác nhau. Nhiều nghiên cứu quốc tế ghi nhận hơn 50 loại thuốc liên quan đến rối loạn sắc tố, trong đó các nhóm dưới đây là phổ biến nhất: (4)
Trong nhóm tetracycline, minocycline là thuốc thường xuyên được ghi nhận gây tăng sắc tố da bởi khả năng tạo phức hợp melanin – thuốc và lắng đọng sắt trong trung bì khiến da chuyển màu xanh xám hoặc nâu đậm theo thời gian. Tình trạng này xuất hiện nhiều hơn ở vùng viêm cũ, sẹo mụn hoặc cẳng chân và có thể tồn tại dai dẳng ngay cả khi ngừng thuốc.

Những thuốc điều trị sốt rét như chloroquine và hydroxychloroquine cũng có thể làm da đổi màu theo hướng thâm dần. Cơ thể có xu hướng giữ lại một phần thuốc và các chất chuyển hóa của nó trong lớp da sâu, kết hợp với melanin tạo nên màu nâu xanh hoặc xám đen đặc trưng. Tình trạng này hay gặp ở vùng tiếp xúc ánh sáng như mặt, cẳng chân hoặc thậm chí cả niêm mạc và móng tay.
Nhiều thuốc hóa trị như bleomycin, doxorubicin, cyclophosphamide và 5-fluorouracil có thể khiến da sẫm màu hơn trong quá trình điều trị. Bởi vì tác động mạnh lên quá trình phân chia tế bào nên nhóm thuốc này không chỉ ảnh hưởng đến tế bào ung thư mà còn làm thay đổi hoạt động của tế bào sắc tố khiến melanin được tạo ra nhiều hơn hoặc phân bố không đều.
Một số người bệnh bắt đầu thấy da thâm lan tỏa, xuất hiện những đốm nâu hoặc các dải sẫm màu trên móng. Ngoài ra da có thể bị kích ứng và viêm nhẹ trong quá trình hóa trị làm vùng tổn thương dễ để lại thâm sau viêm. Những thay đổi này được ghi nhận khá thường xuyên ở bệnh nhân đang điều trị ung thư.
Một số thuốc giảm đau – kháng viêm không steroid, đặc biệt là ketoprofen có thể khiến da nhạy cảm hơn với ánh nắng trong thời gian sử dụng. Khi da tiếp xúc tia UV lúc đang “nhạy nắng” vùng da đó dễ bị kích ứng và để lại thâm kéo dài, nhất là ở những vị trí hở như mặt, cổ hoặc cánh tay. Đây là dạng tăng sắc tố sau viêm khá điển hình và đã được ghi nhận trong nhiều khảo sát.

Những thuốc điều trị HIV như zidovudine hoặc emtricitabine đôi khi làm xuất hiện các vùng tăng sắc tố đối xứng ở móng, lòng bàn tay, lòng bàn chân hoặc niêm mạc miệng sau khi sử dụng kéo dài. Cơ chế có thể liên quan đến việc tế bào sắc tố tăng sản xuất melanin hoặc sắc tố tích tụ ở những vùng da dày. Nhiều báo cáo ca và tổng quan da liễu quốc tế ghi nhận nhóm thuốc kháng retrovirus là nguyên nhân đáng lưu ý của tăng sắc tố mắc phải ở bệnh nhân HIV.
Nhận biết tăng sắc tố da do thuốc chủ yếu dựa vào thời điểm xuất hiện sạm da sau khi dùng thuốc và sự thay đổi màu sắc da theo thời gian. Da thường sẫm dần trong vài tuần đến vài tháng, không ngứa hay đau, tạo thành các mảng thâm hoặc đốm nâu – xám. Một số thuốc như minocycline, amiodarone, thuốc điều trị HIV hoặc thuốc hóa trị có thể gây sắc xanh xám đặc trưng, trong khi thuốc gây nhạy cảm ánh sáng như doxycycline, tetracycline lại làm sạm vùng da hở; các loại khác có thể gây thâm ở móng, lòng bàn tay, lòng bàn chân hoặc vùng da từng bị viêm. (5)
Tuy nhiên chỉ dựa vào biểu hiện bên ngoài đôi khi chưa đủ để phân biệt với nám hay tăng sắc tố sau viêm vì vậy bác sĩ thường sử dụng thêm các kỹ thuật chuyên sâu như soi da giúp quan sát mô hình sắc tố và đánh giá độ sâu trong thượng bì và trung bì; đèn Wood hỗ trợ phân biệt sắc tố nông – sâu và nhận diện kiểu tăng sắc tố đặc trưng do lắng đọng thuốc; trong các trường hợp phức tạp, sinh thiết da có thể được chỉ định để xác định melanin, hemosiderin, lipofuscin hoặc các hạt kim loại lắng đọng trong mô da. Đồng thời bác sĩ cũng đánh giá mức độ liên quan giữa thuốc và biểu hiện sạm da thông qua bệnh sử, mô hình khởi phát và cải thiện sau khi ngừng thuốc, kết hợp loại trừ các nguyên nhân nội tiết hoặc chuyển hóa khác.

Xử trí tăng sắc tố da do thuốc tập trung vào việc loại bỏ yếu tố gây sạm da và hỗ trợ da phục hồi an toàn. Điều này bao gồm việc ngừng hoặc thay thế thuốc và các phương pháp điều trị chuyên sâu. Cụ thể là:
Khi xác định được loại thuốc gây tăng sắc tố, bác sĩ sẽ cân nhắc giảm liều, ngừng hoặc đổi sang thuốc khác ít tác dụng phụ hơn. Điều này giúp sắc tố không tiếp tục đậm lên và tạo cơ hội cho da phục hồi dần theo thời gian. Tuy nhiên quyết định ngừng hoặc đổi thuốc phải do bác sĩ đưa ra để tránh ảnh hưởng đến bệnh lý đang điều trị, đặc biệt ở những trường hợp dùng thuốc dài hạn như kháng viêm, kháng retrovirus hoặc thuốc điều trị mạn tính khác.
Song song với việc điều chỉnh thuốc, bác sĩ da liễu có thể chỉ định thêm các biện pháp hỗ trợ như kem bôi làm sáng da, retinoid, azelaic acid, vitamin C hoặc các công nghệ chuyên sâu như peel hóa học, laser Q-switched hoặc Picosecond để làm mờ sắc tố sâu. Những phương pháp này giúp cải thiện màu da rõ hơn nhưng cần thực hiện dưới sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ và kết hợp chống nắng để đạt hiệu quả tốt nhất.

Để hạn chế nguy cơ tăng sắc tố khi dùng thuốc, người bệnh nên thông báo cho bác sĩ nếu từng bị thâm da hoặc có cơ địa dễ tăng sắc tố để được lựa chọn thuốc phù hợp hơn. Trong suốt quá trình điều trị, duy trì thói quen chống nắng cẩn thận bằng kem chống nắng phổ rộng, che chắn bằng mũ nón rộng vành khi ra ngoài.
Bên cạnh đó người bệnh cũng cần có thói quen chăm sóc da khoa học. Hãy sử dụng sản phẩm làm sạch dịu nhẹ, tránh chà xát mạnh hoặc cào gãi vì các tổn thương nhỏ trên da dễ để lại tăng sắc tố sau viêm; giữ da đủ ẩm giúp hàng rào bảo vệ da khỏe hơn, giảm kích ứng trong thời gian dùng thuốc; duy trì lịch khám định kỳ giúp phát hiện sớm những thay đổi bất thường và điều chỉnh kế hoạch điều trị nếu sắc tố tiến triển.
Như vậy tăng sắc tố da do thuốc uống là tình trạng phổ biến đã được ghi nhận rộng rãi trong nhiều nghiên cứu da liễu quốc tế. Một số nhóm thuốc như tetracycline, thuốc chống sốt rét, thuốc hóa trị, NSAIDs hay thuốc điều trị HIV đều có cơ chế tác động trực tiếp lên tế bào sắc tố hoặc gây nhạy cảm ánh sáng làm da sẫm màu theo thời gian. Mức độ sạm da phụ thuộc vào loại thuốc, liều dùng, cơ địa và khả năng tiếp xúc ánh nắng của mỗi người. Nếu thấy da đổi màu bất thường trong quá trình điều trị, người bệnh nên đi khám sớm để được đánh giá nguyên nhân và hướng dẫn xử trí phù hợp.