Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm trùng ở cổ họng và đường hô hấp trên do vi khuẩn bạch hầu gây ra. Bệnh có thể lây lan toàn thân dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm cho tim, hệ thần kinh và tiềm ẩn nguy cơ tử vong. Trong 6 tháng đầu năm 2024, Việt Nam ghi nhận 5 trường hợp mắc, trong đó 1 ca tử vong. Việc hiểu rõ nguyên nhân và triệu chứng bệnh sẽ giúp bạn xác định những phương pháp phòng ngừa kịp thời, hiệu quả.

Bệnh bạch hầu (tên tiếng Anh là Diphtheria) là bệnh nhiễm vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae cấp tính. Vi khuẩn này tiết ra chất độc dẫn đến tích tụ giả mạc màu xám, dày, bám chặt vào amidan, hầu họng, thanh quản, mũi, khiến người bệnh gặp khó khăn trong việc thở và nuốt. (1)
Ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu có thể tạo thành những tổn thương nghiêm trọng cho cơ thể, bao gồm: sốt, đau họng, sưng hạch ở cổ. Bệnh cũng có thể ảnh hưởng đến da, mắt, bộ phận sinh dục và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như tắc nghẽn đường hô hấp, viêm cơ tim, viêm dây thần kinh vận động ngoại biên, bệnh về thận, xuất huyết giảm tiểu cầu,…
Bệnh bạch hầu lây nhiễm qua đường giọt bắn, thường là do hít phải vi khuẩn khi tiếp xúc với người mắc bệnh, thông qua việc nói chuyện, ho, hắt hơi; hoặc lây lan qua việc sử dụng đồ vật của người nhiễm bệnh, chẳng hạn như dùng chung khăn giấy, uống chung ly nước. Bạn cũng có nguy cơ lây nhiễm nếu chạm vào vết loét nhiễm trùng của người mắc bệnh bạch hầu ngoài da. Thời gian ủ bệnh khoảng 2 – 5 ngày kể từ khi nhiễm vi khuẩn bạch hầu.
Bệnh bạch hầu xuất hiện ở nhiều vùng trên thế giới: Haiti và Cộng hòa Dominica ở Châu Mỹ, Đông Âu, Nam Thái Bình Dương, Trung Đông, Châu Á – trong đó có Việt Nam.
Tại Việt Nam, bệnh bạch hầu đã có vắc xin phòng bệnh trong Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia, nhờ đó làm giảm số ca mắc từ 3500 trường hợp (năm 1983) xuống còn khoảng 10 – 50 ca mắc/năm (trong vòng 15 năm từ 2004 – 2019), sau đó số người nhiễm bệnh tăng trở lại vào năm 2020 (226 trường hợp), rồi lại giảm trong năm 2021 (6 trường hợp) và năm 2022 (2 trường hợp). (2)
Năm 2023, cả nước ghi nhận 57 ca mắc bệnh bạch hầu, trong đó 7 trường hợp tử vong. Trong nửa đầu năm 2024, Việt Nam đã ghi nhận 5 ca nhiễm bệnh, trong đó có 1 trường hợp tử vong (tính đến 5/7/2024).
Bệnh bạch hầu được chia thành hai loại chính: bệnh bạch hầu cổ điển và bệnh bạch hầu ngoài da.
Bệnh bạch hầu cổ điển là loại bệnh phổ biến nhất, gây ảnh hưởng đến mũi, cổ họng, amidan, thanh quản. Các triệu chứng có thể khác nhau tùy thuộc vào vị trí bị ảnh hưởng trong cơ thể.
Bạch hầu thể họng thông thường:
Giai đoạn ủ bệnh (2 – 5 ngày): Ban đầu không có triệu chứng lâm sàng, sau đó khởi phát với các biểu hiện sổ mũi, niêm mạc họng đỏ, hạch cổ sưng đau, sốt nhẹ, đau họng.
Giai đoạn toàn phát của bạch hầu họng: Trong họng xuất hiện giả mạc màu trắng ngà, bám chặt vào một hoặc hai bên amidan, khi bong tróc rất dễ chảy máu. Người bệnh sẽ cảm thấy đau cổ họng, khó nuốt, cơ thể mệt mỏi xanh xao, sốt, da xanh tái, mạch đập nhanh.

Bạch hầu thanh quản:
Hầu hết bệnh bạch hầu thể họng thông thường không được điều trị kịp thời gây ra, khiến các giả mạc lan xuống thanh quản và có nguy cơ làm tắc nghẽn đường hô hấp khiến người bệnh tử vong.
Bạch hầu ác tính:
Bạch hầu ác tính, hay còn gọi là bạch hầu cấp, xuất hiện trong khoảng 3 – 7 ngày kể từ khi khởi phát. Biểu hiện bao gồm sốt cao, cơ thể mệt mỏi, da xanh tái, nuốt đau, giả mạc bám chặt hai bên amidan, hơi thở có mùi, hạch cổ sưng to, cổ bạnh ra. Người bệnh tím tái, mệt lả, xuất huyết nhiều nơi (xuất huyết dưới da, nôn ra máu, tiểu ra máu), mạch nhanh và có thể tử vong.
Bạch hầu mũi:
Người bệnh bị sổ mũi, chảy ra chất nhầy có kèm máu, xuất hiện màng trắng ở vách ngăn mũi, da xanh xao, dễ bị nôn, sốt nhẹ. Theo thời gian, giả mạc khu trú ở mũi lan rộng ra vùng họng và gây nhiễm độc toàn thân.
Đây là loại bệnh bạch hầu hiếm gặp nhất, biểu hiện ban đầu như mụn nước hoặc mụn mủ sau đó vỡ ra tạo thành vết loét, có thể xuất hiện bất cứ đâu trên cơ thể. Vết loét thường dạng lõm, vùng da xung quanh bị sưng tấy và có màu từ hồng đến tím.
Bệnh bạch hầu ngoài da xảy ra phổ biến ở vùng khí hậu nhiệt đới hoặc những khu vực đông dân cư, điều kiện sống không lành mạnh.
Vậy bệnh bạch hầu có triệu chứng gì? Các dấu hiệu bệnh bạch hầu phổ biến bao gồm:
Các triệu chứng của bệnh bạch hầu thường xuất hiện sau 2 – 5 ngày kể từ khi tiếp xúc với vi khuẩn.

Bên cạnh đó, biểu hiện của bệnh bạch hầu ngoài da thường bao gồm:
Bệnh bạch hầu nếu không được điều trị kịp thời có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng cho sức khỏe, thậm chí là tính mạng:
Vi khuẩn bạch hầu tiết ra ngoại độc tố gây tổn thương các mô ở khu vực bị nhiễm trùng – thường là mũi và cổ họng, dẫn tới hình thành giả mạc màu xám, dày bám vào vòm họng, khiến người bệnh khó thở, suy hô hấp.
Ngoại độc tố do vi khuẩn bạch hầu tiết ra có thể lây lan qua đường máu và tấn công các mô khác trong cơ thể, gây viêm cơ tim, tổn thương tim, rối loạn nhịp tim, thậm chí tử vong đột ngột do suy tim. Biến chứng viêm cơ tim có thể xuất hiện bất cứ lúc nào trong giai đoạn toàn phát hoặc sau khi bệnh đã khỏi. Nếu viêm cơ tim xảy ra sớm vào những ngày đầu của bệnh, người bệnh tiềm ẩn nguy cơ tử vong cao.
Ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu có thể gây tổn thương hệ thần kinh, mục tiêu chủ yếu là các dây thần kinh đến cổ họng, làm chậm quá trình dẫn truyền thần kinh khiến người bệnh khó nuốt. Các dây thần kinh ở cánh tay và chân cũng có thể bị ảnh hưởng dẫn tới yếu cơ. Bên cạnh đó, nếu ngoại độc tố làm tổn thương các dây thần kinh kiểm soát cơ hô hấp sẽ khiến người bệnh bị suy hô hấp, buộc phải thở máy.
Trong trường hợp mắc bệnh bạch hầu nghiêm trọng, ngoại độc tố có thể làm tổn thương thận, biểu hiện bởi tình trạng tiểu ra máu, protein niệu,…
Người mắc bệnh bạch hầu có thể gặp các vấn đề về dây thần kinh kiểm soát bàng quang, dẫn tới rối loạn chức năng, biểu hiện bởi việc đi tiểu thường xuyên, tiểu rắt, mất kiểm soát bàng quang.
Ở những đối tượng bị bệnh bạch hầu, cơ hoành có thể bị tê liệt đột ngột, kéo dài 30 phút hoặc lâu hơn. Trong trường hợp cơ hoành ngừng hoạt động, người bệnh có nguy cơ tử vong.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization), tỷ lệ tử vong của bệnh bạch hầu là 5% – 10%, nguy cơ cao ở trẻ nhỏ. Chính vì thế, ngay khi xuất hiện các triệu chứng hoặc nghi ngờ mắc bệnh, bạn cần đến ngay các trung tâm y tế gần nhất để được thăm khám, xét nghiệm, cách ly và điều trị kịp thời. (4)
Nguyên nhân bệnh bạch hầu là vi khuẩn gram dương Corynebacterium diphtheriae thuộc họ Corynebacteriaceae. Vi khuẩn bạch hầu có 3 týp là Gravis, Mitis và Intermedius. Khi soi chiếu dưới kính hiển vi, hình thể thẳng hoặc cong nhẹ, không di động, không sinh nha bào, dài khoảng 2 – 6 micromet, rộng 0.5 – 1 micromet. Vi khuẩn có thể tồn tại ở môi trường bên ngoài, chịu được khô lạnh; đặc biệt phát triển nhanh trong môi trường có máu và huyết thanh.
Không phải mọi vi khuẩn bạch hầu đều có hại, trừ khi chúng bị nhiễm một loại virus mang gen mã hóa tạo độc tố. Điều này có nghĩa là chỉ những vi khuẩn có độc tố mới gây bệnh. Ngoại độc tố do vi khuẩn bạch hầu tiết ra gây ức chế tổng hợp protein, phá hủy các mô, tạo nên giả mạc màu trắng xám, dày, bám chặt vào họng, thanh quản, lưỡi, mũi, tuyến hạnh nhân.
Ngoại độc tố còn có khả năng lây lan qua đường máu, làm tổn thương các bộ phận khác trong cơ thể, dẫn tới hàng loạt biến chứng nguy hiểm: viêm cơ tim, viêm phổi, tổn thương hệ thần kinh, liệt cơ, tử vong,…
Những vi khuẩn không tiết ngoại độc tố thường chỉ gây nhiễm trùng mũi họng mức độ nhẹ đến trung bình, không tạo giả mạc, hoặc có thể gây viêm khớp tự hoại, viêm nội tâm mạc,…

Câu trả lời là bạch hầu có lây, bệnh bạch hầu là bệnh lây nhiễm. Con đường lây lan của vi khuẩn bạch hầu (C. diphtheriae) bao gồm:
Đối tượng mắc bệnh bạch hầu nhưng chưa được điều trị vẫn có thể lây nhiễm cho những người chưa tiêm vắc xin phòng bệnh, ngay cả khi không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào. (5)
Theo ECO Pharma, bất cứ ai cũng có thể mắc bệnh bạch hầu. Tuy nhiên, một số đối tượng có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn:
Sau khi nhiễm bệnh, vi khuẩn sẽ nhanh chóng nhân lên trong cơ thể và lây lan qua lớp niêm mạc bên trong cổ họng, miệng và mũi. Vi khuẩn bạch hầu sẽ tiết ra ngoại độc tố tiêu diệt các tế bào trong cổ họng, sau đó liên kết lại tạo thành giả mạc trắng xám bám chặt vào họng, thanh quản, mũi,… của người bệnh. Ngoại độc tố cũng có thể lây lan qua đường máu, gây tổn thương đến tim và hệ thần kinh.
Không phải tất cả vi khuẩn bạch hầu đều gây hại, trừ khi chúng bị nhiễm bởi một thể thực khuẩn mang gen tạo ra độc tố. Thể thực khuẩn sẽ chuyển vật liệu di truyền mã hóa độc tố vào DNA của vi khuẩn, từ đó tạo ra chất độc gây bệnh bạch hầu.
Ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu là một polypeptide đơn được tạo thành từ đoạn A và đoạn B, được nối với nhau bằng liên kết disulfide. Khả năng liên kết với bề mặt tế bào của đoạn B (kém ổn định hơn trong hai đoạn) cho phép đoạn A xâm nhập vào tế bào chủ và làm gián đoạn một bước thiết yếu trong quá trình tổng hợp protein, từ đó ngăn chặn sự hình thành protein mới.
Kết quả chẩn đoán bệnh bạch hầu dựa trên các triệu chứng và xét nghiệm. Bác sĩ sẽ dùng tăm bông lấy mẫu ở phía sau cổ họng hoặc ở vết loét của người bệnh để tiến hành kiểm tra.
Phương pháp thường được áp dụng nhất là soi kính hiển vi: tiến hành nhuộm gram tiêu bản cho thấy trực khuẩn bắt màu gram dương, hai đầu to; hoặc nhuộm Albert, trực khuẩn bắt màu xanh. Điều này có nghĩa là người bệnh mắc bệnh bạch hầu.
Ngoài ra, còn có phương pháp nuôi cấy mẫu bệnh phẩm trên môi trường thạch máu, môi trường chọn lọc Loeffler, môi trường Tinsdale, môi trường Cystine tellurite blood agar (CTBA). Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là trả kết quả chậm.
Trong trường hợp cần phân biệt thể có độc tố khỏi chủng không độc tố, có thể thực hiện xét nghiệm Elek, xét nghiệm PCR và xét nghiệm miễn dịch enzyme (Enzyme immunoassay – EIA).
Phương pháp tìm kháng thể trong máu người bệnh ít khi được áp dụng.
Bên cạnh thắc mắc bệnh bạch hầu là bệnh gì, nhiều người còn băn khoăn về vấn đề điều trị như thế nào. Quá trình điều trị bệnh bạch hầu cần được thực hiện nhanh chóng. Các phương pháp bao gồm:
Những đối tượng mắc bệnh bạch hầu phải được cách ly để tránh lây nhiễm cho người khác. Khi kết thúc quá trình điều trị, người bệnh sẽ thực hiện một số xét nghiệm nhằm đảm bảo vi khuẩn đã bị tiêu diệt. Sau đó bạn cần tiêm vắc xin để ngăn ngừa nhiễm bệnh trong tương lai.

Biện pháp ngăn chặn bệnh bạch hầu tối ưu nhất đó là tiêm vắc xin phòng bệnh. Hiện nay, tại Việt Nam chưa có vắc xin đơn giá phòng bệnh bạch hầu. Tuy nhiên, bạn có thể tiêm các loại vắc xin phối hợp trong đó chứa thành phần kháng nguyên bạch hầu, có tác dụng phòng bệnh bạch hầu và những bệnh truyền nhiễm khác, bao gồm:
Ngoài ra, trong chương trình Tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam còn có vắc xin ComBE Five, DPT-VGB-Hib (SII) và DPT được Chính phủ nước ta cấp ngân sách để mua và cung cấp miễn phí cho tất cả trẻ em trong độ tuổi quy định.
Vắc xin phòng bệnh bạch hầu nên được tiêm ngừa cho trẻ em lúc 2, 3, 4 tháng tuổi, sau đó tiêm nhắc lúc trẻ 16 – 18 tháng tuổi, 4 – 6 tuổi, 9 – 15 tuổi để đảm bảo duy trì khả năng bảo vệ của vắc xin.
Người lớn, đặc biệt là những đối tượng có hệ miễn dịch kém như: người già từ 50 tuổi trở lên, phụ nữ có dự định hoặc đang mang thai,… cũng cần tiêm đầy đủ các mũi vắc xin phòng bệnh bạch hầu, đồng thời tiêm nhắc lại mỗi 10 năm để duy trì khả năng miễn dịch.

Ngoài ra, theo Quyết định số 3593/QĐ-BYT ngày 18/08/2020 của Bộ Y tế về việc ban hành “Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh bạch hầu”, người dân cần thực hiện các biện pháp:
Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC tự hào là địa chỉ tiêm chủng an toàn, uy tín, chất lượng hàng đầu Việt Nam. VNVC đảm bảo cung ứng đầy đủ các loại vắc xin phòng bệnh bạch hầu cho trẻ em và người lớn với giá thành hợp lý.
VNVC áp dụng quy trình tiêm chủng 8 bước khoa học, khép kín, đảm bảo an toàn. 100% người bệnh đến VNVC đều được khám sàng lọc miễn phí trước khi tiêm. Đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng được đào tạo bài bản về khả năng xử trí với phản ứng sau tiêm và có chứng chỉ an toàn tiêm chủng.
Không những thế, VNVC còn mang đến những trải nghiệm thoải mái, an tâm cho người bệnh nhờ cơ sở vật chất tiện nghi, đầy đủ: phòng chờ sau tiêm, khu vực riêng cho con bú, khu vui chơi cho trẻ, phòng thay tã,… cùng nhiều tiện ích miễn phí khác như wifi, nước sạch, bỉm tã, khăn giấy ướt,…
Sau tiêm, bạn cần ở lại khoảng 30 phút để theo dõi các phản ứng sau tiêm, đồng thời điều dưỡng sẽ kiểm tra vết tiêm, nhiệt độ cơ thể, cung cấp tài liệu và dặn dò những vấn đề về phản ứng sau tiêm trước khi ra về.
Bệnh bạch hầu có khả năng lây lan nhanh và tiềm ẩn nguy cơ tử vong trong vòng 6 đến 10 ngày nếu không được điều trị kịp thời. Tuyệt đối không nên chủ quan và cần tiêm vắc xin sớm nhất có thể, đặc biệt là nhóm đối tượng có sức đề kháng yếu (trẻ em từ 2 tháng tuổi, phụ nữ mang thai, người lớn tuổi,…). Những cá nhân có biểu hiện bệnh bạch hầu hoặc đã từng tiếp xúc với người mắc bệnh cần trung thực khai báo, chủ động liên hệ trung tâm y tế để được kiểm tra, cách ly và điều trị, tránh lây nhiễm cho cộng đồng.