Thời điểm mãn kinh khác nhau ở mỗi người, mặc dù thường xảy ra trong khoảng 50 – 55 tuổi nhưng các triệu chứng có thể xuất hiện sớm hơn từ trước 40 tuổi. Chẩn đoán mãn kinh giúp phụ nữ chủ động các biện pháp thích ứng với giai đoạn này, giảm các triệu chứng khó chịu, phòng ngừa bệnh tật và nâng cao chất lượng sống. Cùng ECO Pharma tìm hiểu các phương pháp chẩn đoán mãn kinh chi tiết trong bài viết sau đây.

Mãn kinh được định nghĩa là sự chấm dứt vĩnh viễn của chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng ở phụ nữ, do buồng trứng ngừng hoạt động chức năng nang noãn. Điều này đồng nghĩa là buồng trứng không còn khả năng phóng thích trứng để thụ tinh.
Độ tuổi mãn kinh tự nhiên thường là từ 50 tuổi đến 55 tuổi trên phạm vi toàn cầu. Độ tuổi mãn kinh trung bình ở Mỹ là 52 tuổi. Mãn kinh tự nhiên được xác định khi phụ nữ trải qua 12 tháng liên tục không có kinh nguyệt, loại trừ các nguyên nhân sinh lý, bệnh lý khác hoặc bất kỳ can thiệp y tế nào. Ở một số phụ nữ có thể trải qua mãn kinh sớm hơn trước tuổi 40, tình trạng này có thể do sự bất thường nhiễm sắc thể, rối loạn tự miễn dịch hoặc các nguyên nhân chưa rõ. Ngoài mãn kinh tự nhiên, mãn kinh cũng xảy ra do cắt bỏ buồng trứng hoặc điều trị ngừng chức năng buồng trứng (xạ trị, hóa trị). (1)
Phụ nữ cũng có thể ngưng kinh nguyệt trước khi thực sự mãn kinh do các thủ thuật phẫu thuật (ví dụ như cắt tử cung, phá hủy nội mạc tử cung) hoặc dùng thuốc (tránh thai nội tiết tố). Mặc dù không còn kinh nguyệt nhưng họ vẫn trải qua các triệu chứng liên quan đến giai đoạn tiền mãn kinh. Thời điểm mãn kinh ở mỗi người là khác nhau và có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau.

Thay đổi nội tiết tố trong giai đoạn mãn kinh có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, cảm xúc, tinh thần và các mối quan hệ xã hội của phụ nữ. Mức độ và loại triệu chứng trải qua ở mỗi người là rất khác nhau. Trong khi một số ít hoặc không gặp bất kỳ triệu chứng nào thì những người khác có thể phải đối mặt với nhiều triệu chứng nghiệm trọng, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, chất lượng sống và thậm chí có thể kéo dài trong nhiều năm. (2)
Nhưng nhìn chung, nữ giới có thể gặp phải một số hay tất cả các triệu chứng liên quan đến thời kỳ mãn kinh như:
Ở một số người cũng có thể gặp phải:

Như đã đề cập, độ tuổi mãn kinh thường khác nhau ở mỗi người, nhưng nếu nhận thấy bất kỳ triệu chứng bất thường nào nghi ngờ liên quan đến giai đoạn này thì nên đi thăm khám. Để xác định liệu bạn có đang trải qua giai đoạn mãn kinh hay không, bác sĩ sẽ cần thực hiện nhiều phương pháp chẩn đoán.
Các phương pháp chẩn đoán mãn kinh gồm:
Nếu nghi ngờ bị mãn kinh chẩn đoán như thế nào cho chính xác, phụ nữ tuổi này nên theo dõi và ghi nhớ các chu kỳ kinh của mình trong vòng 6 tháng diễn ra như thế nào. Khi đi khám, bác sĩ sẽ khai thác thông tin tiền sử kinh nguyệt và các triệu chứng, tiền sử gia đình để chẩn đoán ban đầu. Những điều bạn thường được hỏi bao gồm thời điểm kỳ kinh cuối cùng (LMP); sự biến đổi về tần suất, lưu lượng kinh nguyệt (rong kinh, thiểu kinh) và tính đều đặn của chu kỳ; đánh giá các triệu chứng lâm sàng nghi ngờ liên quan đến suy giảm chức năng buồng trứng (ví dụ: bốc hỏa, rối loạn giấc ngủ, thay đổi khí sắc). (3)
Sau đó, một loạt các xét nghiệm sau cần được thực hiện:
Khi có triệu chứng nghi ngờ mãn kinh, bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng để loại trừ các bệnh lý có biểu hiện tương đồng như suy buồng trứng nguyên phát hoặc rối loạn chức năng tuyến giáp. Các xét nghiệm máu thường quy bao gồm xét nghiệm định lượng hormone kích thích nang trứng (FSH) và estrogen huyết thanh. Bởi vì trong thời kỳ mãn kinh thì nồng độ FSH tăng lên còn nồng độ estrogen sẽ giảm xuống.
Không chỉ vậy, việc đánh giá nồng độ FSH và estrogen còn giúp xác định các rối loạn chức năng tuyến yên tiềm ẩn. Bởi vì ở nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt, hormone FSH (do tuyến yên trước bài tiết) có vai trò kích thích sự trưởng thành của nang noãn và sản xuất estradiol (một dạng estrogen chính yếu tham gia vào điều hòa chu kỳ kinh nguyệt và duy trì chức năng của đường sinh sản nữ). Kết quả xét nghiệm nếu FSH ≥ 40 mIU/ml và Estradiol dưới 50 pg/l, sẽ được chẩn đoán là mãn kinh.
Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể chỉ định thêm một xét nghiệm máu để kiểm tra hormone kích thích tuyến giáp (TSH), vì suy giáp có thể gây ra các triệu chứng tương tự như mãn kinh. Một xét nghiệm chẩn đoán mới được phê duyệt gần đây có tên là xét nghiệm PicoAMH Elisa đo lượng hormone anti-Mullerian (AMH) trong máu. Nó có thể giúp bác sĩ xác định thời điểm phụ nữ sẽ bước vào thời kỳ mãn kinh nếu chưa trải qua giai đoạn này. (4)

Siêu âm phụ khoa là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn vùng chậu (qua thành bụng hoặc ngả âm đạo). Phương pháp này dùng sóng âm tần số cao để khảo sát hình thái và cấu trúc tử cung, buồng trứng.
Siêu âm không trực tiếp xác định mãn kinh nhưng giúp phân biệt triệu chứng mãn kinh với các bệnh lý khác gây ra các triệu chứng tương tự. Một số bệnh lý có thể phát hiện được bằng siêu âm là u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung, polyp buồng tử cung, u nang buồng trứng, tình trạng dày niêm mạc tử cung bất thường, hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS).
Bác sĩ có thể chỉ định thêm một số xét nghiệm, thăm dò cận lâm sàng khác bên cạnh các cách chẩn đoán thời kỳ mãn kinh (khai thác tiền sử và khám thực thể). Soi cổ tử cung là một xét nghiệm có thể được chỉ định thực hiện. Nữ giới ở độ tuổi trung niên thường có nguy cơ mắc các vấn đề về tử cung và phụ khoa khác. Nhưng những thay đổi về âm đạo trong thời kỳ mãn kinh có thể che lấp các tình trạng này như chảy máu bất thường (một triệu chứng của giai đoạn tiền mãn kinh), dịch tiết âm đạo bất thường hoặc kết quả xét nghiệm tế bào cổ tử cung bất thường. Vì vậy soi tử cung có thể phải thực hiện để kiểm tra kỹ hơn tử cung, giúp phân biệt rõ triệu chứng mãn kinh và các vấn đề về tử cung.
Ngoài ra, chụp DEXA (đo mật độ khoáng xương) cũng được chỉ định. Đây là một xét nghiệm giúp đánh giá nguy cơ loãng xương, một biến chứng thường gặp do suy giảm nồng độ estrogen sau mãn kinh (đặc biệt ở những phụ nữ lớn tuổi) hoặc có các yếu tố nguy cơ khác. Bác sĩ cũng có thể chỉ định thêm các xét nghiệm chỉ số huyết áp, mỡ máu (cholesterol, triglyceride) và đường huyết. Mục đích của xét nghiệm này là tầm soát, quản lý các nguy cơ tim mạch và rối loạn chuyển hóa, vốn có xu hướng tăng ở phụ nữ mãn kinh do thay đổi nội tiết tố.
Sự khác biệt về thời điểm mãn kinh ở mỗi người chịu tác động từ nhiều yếu tố và chính những yếu tố này cũng ảnh hưởng đến cách bác sĩ tiếp cận chẩn đoán mãn kinh.
Những yếu tố này bao gồm:
Mãn kinh chẩn đoán như thế nào? Tuổi tác là yếu tố quan trọng trong chẩn đoán này. Mãn kinh tự nhiên thường xảy ra trong độ tuổi từ 50 – 55, với độ tuổi trung bình là 52. Các nghiên cứu chỉ ra rằng tuổi khởi phát mãn kinh càng trẻ thì thời gian chuyển đổi mãn kinh có xu hướng kéo dài hơn.
Khi phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh tự nhiên có triệu chứng nghi ngờ, bác sĩ sẽ chẩn đoán ưu tiên về khả năng mãn kinh. Nhưng điều quan trọng là phải loại trừ các nguyên nhân khác có thể gây ra các biểu hiện tương tự. Mãn kinh xảy ra quá sớm (trước 40 tuổi) hoặc quá muộn (sau 55 tuổi) có thể là dấu hiệu của các vấn đề sức khỏe tiềm ẩn, đòi hỏi cần được thăm dò và đánh giá chuyên sâu hơn.

Mãn kinh cũng có xu hướng di truyền trong gia đình từ mẹ hoặc chị em gái. Vì vậy việc cung cấp độ tuổi mãn kinh của các thành viên trong gia đình sẽ giúp bác sĩ đánh giá và chẩn đoán mãn kinh tốt hơn. Yếu tố này đặc biệt hữu ích trong các trường hợp có biểu hiện lâm sàng không điển hình hoặc khởi phát ở độ tuổi không nằm trong khoảng thường gặp của mãn kinh tự nhiên.
Thiếu hụt dinh dưỡng nghiêm trọng hoặc chế độ ăn kiêng khắc nghiệt có liên quan đến việc khởi phát mãn kinh sớm. Ngược lại, chỉ số khối cơ thể (BMI) cao hơn có thể liên quan đến tuổi mãn kinh muộn hơn. Vì vậy khi chẩn đoán mãn kinh, bác sĩ có thể thu thập thông tin về tiền sử chế độ ăn uống của phụ nữ để đánh giá yếu tố nguy cơ liên quan đến thời điểm mãn kinh.
Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ có liên quan đến việc mãn kinh sớm hơn từ 1 – 2 năm và thời gian chuyển đổi mãn kinh ngắn hơn. Lối sống ít vận động và tiêu thụ nhiều rượu bia cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể và các triệu chứng mãn kinh. Trong quá trình chẩn đoán mãn kinh bác sĩ có thể khai thác tiền sử hút thuốc và thói quen sinh hoạt để đánh giá thời điểm mãn kinh là sớm hay muộn.
Căng thẳng tâm lý không trực tiếp gây ra mãn kinh. Tuy nhiên nó có thể làm trầm trọng các triệu chứng của giai đoạn tiền mãn kinh như thay đổi tâm trạng, lo âu và rối loạn giấc ngủ. Đây cũng là những triệu chứng có thể gặp trong các vấn đề tâm lý khác. Vì vậy, bác sĩ cần xem xét mức độ căng thẳng của bạn để phân biệt rõ các triệu chứng này là do mãn kinh hay do các rối loạn tâm thần khác gây ra.
Một số vấn đề sức khỏe có thể khiến mãn kinh xảy ra sớm hơn bình thường hoặc gây ra các triệu chứng giống như mãn kinh. Bao gồm suy buồng trứng sớm (POI); phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng, hóa trị hoặc xạ trị; bệnh tự miễn tấn công nhầm vào buồng trứng; rối loạn nhiễm sắc thể về gen (ví dụ như hội chứng Turner). Do đó, bác sĩ sẽ hỏi về tiền sử bệnh và các phương pháp điều trị bạn đã từng trải qua để tìm hiểu nguyên nhân gây ra các triệu chứng và loại trừ khả năng mãn kinh là do các bệnh lý này, hoặc là mãn kinh sớm do các nguyên nhân bệnh lý khác.
Ít nhất hai phần ba số người gặp phải các triệu chứng của mãn kinh như bốc hỏa, đổ mồ hôi ban đêm, thay đổi tâm trạng, dễ cáu gắt và mệt mỏi. Bên cạnh các biện pháp can thiệp y tế, nhiều người thường chủ động thay đổi lối sống giúp giảm đau tự nhiên.
Ví dụ nếu bị rối loạn giấc ngủ, bạn nên điều chỉnh giấc ngủ bằng cách thiết lập một lịch trình ngủ đều đặn, tạo không gian ngủ yên tĩnh, tối và mát mẻ. Tránh sử dụng các thiết bị điện tử trước khi đi ngủ và cố gắng ngủ đủ 7 – 8 tiếng mỗi đêm để cơ thể có thời gian phục hồi và cân bằng nội tiết tố.
Nếu các triệu chứng bốc hỏa và thay đổi tâm trạng, loãng xương ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống, ăn uống khoa học, phù hợp độ tuổi có thể giúp cải thiện. Thường là ăn các loại thực phẩm lành mạnh, tươi ngon, giàu dinh dưỡng và cân bằng thay vì ăn đồ ăn cay nóng, caffeine, hút thuốc và rượu. Đặc biệt là ăn nhiều thực phẩm giàu canxi như sữa, sữa chua và rau lá xanh đậm (ví dụ như cải xoăn) giúp duy trì mật độ xương, giảm nguy cơ loãng xương. Ngoài ra, tập thể dục thường xuyên cũng là một thói quen tốt. Các bài tập (đi bộ, chạy hoặc khiêu vũ) giúp tăng cường sức khỏe xương hoặc các bài tập yoga, thái cực quyền, thiền định để giúp giảm căng thẳng và cải thiện tâm trạng.

>>> Xem thêm: Khắc phục khô hạn tuổi mãn kinh như thế nào?
Phụ nữ nên đi khám ngay nếu nhận thấy các triệu chứng nghi ngờ mãn kinh gây khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng sống. Sau khi thăm khám, trao đổi thông tin, bác sĩ sẽ tư vấn giải pháp cải thiện triệu chứng. Một số loại thuốc kê toa có thể được chỉ định trong hợp thật sự cần thiết.
Phụ nữ cũng nên thăm khám sức khỏe tổng quát cũng như sức khỏe phụ khoa tối thiểu 6 tháng/lần. Thăm khám định kỳ giúp phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng mỡ máu…; đánh giá nguy cơ loãng xương; khám phụ khoa giúp phát hiện sớm các bệnh lý phụ khoa (ví dụ như ung thư cổ tử cung). Đặc biệt, nếu bị chảy máu âm đạo bất thường sau một năm mãn kinh, phụ nữ cần thăm khám ngay. Bởi vì nó có thể là dấu hiệu của ung thư cổ tử cung hoặc ung thư nội mạc tử cung.
Không chỉ riêng việc nữ giới mãn kinh chẩn đoán như thế nào mà có rất nhiều thắc mắc xoay quanh vấn đề mãn kinh cần được giải đáp. Một số câu hỏi được giải đáp dưới đây có thể giúp bạn hiểu rõ hơn.
Mặc dù mãn kinh là quá trình sinh lý tự nhiên, không thể tránh khỏi nhưng nó ảnh hưởng sâu rộng đến sức khỏe lâu dài ở phụ nữ. Sự suy giảm estrogen sau mãn kinh làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, loãng xương, các vấn đề tiết niệu – sinh dục, ảnh hưởng đến chức năng nhận thức và những thay đổi về chuyển hóa có thể dẫn đến tăng cân.
Mãn kinh có thể xảy ra sớm hơn độ tuổi trung bình (50 – 55 tuổi). Có thể là trước 45 tuổi hoặc thậm chí rất sớm là trước 40 tuổi.
Chẩn đoán mãn kinh là một quy trình toàn diện, cần sự kết hợp đánh giá tiền sử kinh nguyệt, các triệu chứng lâm sàng, thực hiện xét nghiệm cận lâm sàng. Hiệu rõ vấn đề mãn kinh chẩn đoán như thế nào giúp phụ nữ chủ động hơn trong việc theo dõi sức khỏe và trao đổi với bác sĩ. Điều này sẽ giúp ích trong việc can thiệp và quản lý các triệu chứng mãn kinh, cải thiện sức khỏe và chất lượng sống.