Một người khỏe mạnh có nhịp tim từ 60 – 100 lần/ phút. Nếu nhịp tim ở dưới mức này thì được gọi là nhịp tim chậm. Khi cảm nhận nhịp tim của mình đập chậm hơn so với bình thường, nhiều người thắc mắc nhịp tim chậm có nguy hiểm không? Để biết được nhịp tim thấp có sao không, bạn có thể theo dõi qua bài viết sau đây của ECO Pharma.

Nhịp tim chậm là thuật ngữ y học chỉ nhịp tim đập dưới 60 lần/ phút. Hơn nữa, tình trạng này còn khiến tim bạn đập quá chậm khi nghỉ ngơi hoặc không tăng tốc khi cần thiết. Trong đó, nhịp tim của một người trưởng thành khỏe mạnh dao động trong khoảng từ 60 – 100 lần mỗi phút, đó là dấu hiệu chứng tỏ thể lực của họ tốt và không có triệu chứng nguy hiểm nào.
Thông thường, tim sẽ vận chuyển oxy và máu giàu chất dinh dưỡng đi khắp cơ thể. Khi nhịp tim không hoạt động bình thường, mọi thứ đều bị ảnh hưởng. Nhịp tim là trung tâm của quá trình này vì chức năng của tim (được gọi là cung lượng tim) liên quan trực tiếp đến nhịp tim và thể tích nhát bóp (lượng máu bơm ra theo mỗi nhịp đập). Chính vì chức năng đó nên nhiều người có thắc mắc rằng, liệu: “Nhịp tim chậm có nguy hiểm không?“
Tình trạng nhịp tim chậm có thể xảy ra với mọi người ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn là ở người lớn trên 65 tuổi. Tình trạng này ít diễn ra phổ biến ở các nhóm đối tượng như người trẻ và trẻ em. Do nhịp tim của cơ thể sẽ chậm lại một cách tự nhiên khi bạn già đi, lúc này các chức năng hoạt động của tim sẽ yếu dần và có thể do nhiều nguyên nhân khác gây ra. [1]
Ngoài ra, nó cũng dễ xuất hiện hơn ở những người mắc một số bệnh nhất định, cụ thể là bệnh di truyền thừa hưởng từ cha mẹ hoặc nếu trong trường hợp bạn dùng một số loại thuốc trị bệnh. Những người thường xuyên tập thể dục có thể có nhịp tim chậm vì họ có thể trạng tốt. Nhịp tim chậm không ảnh hưởng đến những người này vì tim bơm máu hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của cơ thể mặc dù tim đập chậm hơn.
Câu hỏi “nhịp tim chậm có nguy hiểm không?” Câu trả lời đưa ra là nó còn phụ thuộc vào các triệu chứng sẽ xảy ra. Vốn dĩ nhịp tim bình thường phải được duy trì ở mức 60 – 100 lần/ phút nhưng nhịp tim lại đập chậm hơn tốc độ thông thường. Điều này sẽ khiến cho tim không thể nào bơm đủ máu và cung cấp đủ lượng oxy cần thiết cho cơ thể.
Nếu điều này xảy ra, toàn bộ cơ thể của bạn sẽ bị ảnh hưởng, các triệu chứng như chóng mặt, hụt hơi, đau ngực, mệt mỏi, khó thở có thể xảy ra. Khi này, người bệnh cần phải được điều trị khẩn cấp, nếu không thì tim có nguy cơ ngưng đập hoặc xảy ra các biến chứng nguy hiểm khác. Ngược lại, trường hợp người có nhịp tim đập dưới 60 lần/ phút nhưng không có triệu chứng bất thường nào thì không phải lo lắng quá nhiều.
Đối với hầu hết những người trẻ, các vận động viên được đào tạo bài bản và những người tập thể dục thường xuyên, việc nhịp tim thấp dưới 60 lần/ phút có thể là một hiện tượng bình thường, họ hoàn toàn khỏe mạnh vì nhờ có thể trạng tốt. Ngoài ra khi hoạt động thể chất, tim sẽ bơm máu hiệu quả hơn và đáp ứng nhu cầu của cơ mặc dù tim vẫn đập chậm.
Điều này cũng xảy ra tương tự khi bạn ngủ, lúc này nhịp tim đập chậm lại ở mức 40 – 60 lần/ phút. Trong khi ngủ, sự kích thích của hệ thống thần kinh sẽ giảm đi và hầu hết các quá trình trong cơ thể cũng diễn ra chậm lại. Khoảng năm phút sau khi chìm vào giấc ngủ, nhịp tim của bạn sẽ dần dần chậm lại về mức nghỉ ngơi khi bạn bước vào trạng thái được gọi là giấc ngủ nhẹ.
Nhiệt độ cơ thể sẽ giảm xuống và cơ bắp được thư giãn. Nhưng trong giai đoạn tiếp theo, giấc ngủ sâu, huyết áp của bạn giảm đi và nhịp tim cũng đập chậm lại khoảng 20% – 30% so với nhịp tim lúc nghỉ ngơi. Do đó, vấn đề nhịp tim chậm khi ngủ là điều bình thường. Tuy nhiên, nếu trong lúc ngủ bạn có nằm mơ mà giấc mơ lại đáng sợ hoặc liên quan đến hoạt động như chạy, nhịp tim của bạn sẽ tăng lên như thể bạn đang thức. [2]

Muốn biết rõ nguyên nhân chính xác gây nên nhịp tim chậm, người bệnh cần phải được chẩn đoán kỹ càng, chi tiết bởi bác sĩ chuyên môn. Theo đó, trong quá trình chẩn đoán nhịp tim chậm, bác sĩ sẽ bắt đầu bằng cách hỏi về tiền sử bệnh và những triệu chứng mà bạn đã gặp phải.
Khi khám sức khỏe, bác sĩ sẽ nghe nhịp tim của bệnh nhân để phát hiện xem nhịp tim có đang đập bất thường hay không. Đối với một số người, triệu chứng của nhịp tim chậm có thể hơi khó để các bác sĩ phát hiện ra vì nó không phải lúc nào cũng xuất hiện. Nếu vậy, bác sĩ sẽ đề nghị người bệnh thực hiện các xét nghiệm để kiểm tra nhịp tim như sau:
Đây là một xét nghiệm đo hoạt động điện của tim có thể chẩn đoán chính xác nhịp tim chậm cùng các loại nhịp tim bất thường khác. Trong quá trình đo điện tâm đồ, các cảm biến chứa điện cực được gắn vào ngực bằng miếng dính.
Những cảm biến này được kết nối với máy tính để đọc hoạt động điện của tim bạn và thường mất khoảng 5 phút để hoàn thành, không gây đau. Ngoài ra, ECG có thể được thực hiện cùng với các xét nghiệm khác để hiểu nhịp tim chậm ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh như thế nào. Những thử nghiệm này bao gồm:
Thiết bị này ghi lại hoạt động của tim liên tục trong 24 giờ hoặc lâu hơn. Nó hoạt động tương tự như điện tâm đồ. Các điện cực được gắn vào ngực của bạn bằng các miếng dính và chúng được kết nối với một màn hình nhỏ mà bạn mang trong túi hoặc đeo trên thắt lưng, dây đeo vai hoặc quanh cổ.
Trong thời gian theo dõi, bạn cần phải luôn bật Holter và tránh để nó bị ướt. Bạn có thể được yêu cầu ghi nhật ký các triệu chứng của mình trong khi đeo máy theo dõi. Máy theo dõi Holter được sử dụng để đánh giá những thay đổi của nhịp tim mà không thể dễ dàng nhận thấy trên các xét nghiệm khác như ECG.
Phương pháp không xâm lấn siêu âm được sử dụng để kiểm tra xem tim và van tim có hoạt động bình thường hay không. Trong quá trình thực hiện, người bệnh sẽ được yêu cầu nằm ngửa và nằm nghiêng trong khi bác sĩ bôi một loại gel đặc biệt lên ngực bạn và di chuyển đầu dò siêu âm qua khu vực đó. Kiểu quét này sử dụng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh chuyển động của trái tim. Nó không gây đau đớn và thường mất khoảng 20 – 30 phút để hoàn thành.

Ngoài những phương pháp chẩn đoán như trên, các xét nghiệm máu cũng có thể áp dụng cho nhịp tim chậm, hầu hết trong số đó có thể giúp loại trừ các vấn đề khác. Những thử nghiệm này bao gồm:
“Nhịp tim chậm có nguy hiểm không? Có gây biến chứng gì không?” – Nhịp tim chậm có thể ít xảy ra các triệu chứng, nhất là đối với người có thể lực tốt, thường xuyên tập thể dục, nhưng nó cũng có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng chẳng hạn như:
Ngất xỉu là giai đoạn mất ý thức tạm thời xảy ra khi lưu lượng máu đến não bị giảm. Nó thường xảy ra nhất khi huyết áp quá thấp (hạ huyết áp) và tim không bơm đủ oxy lên não. Thông thường, cơn ngất xỉu đa số chỉ kéo dài vài giây hoặc vài phút, sau đó người bệnh có thể tỉnh lại. Đây là một trong số những biến chứng do nhịp tim chậm gây ra, nó làm cho máu không bơm đủ lên não, từ đó dẫn đến tình trạng ngất xỉu.
Nếu người bệnh khó thở, ho nhiều, thường xuyên cảm thấy yếu ớt, chán ăn, phù và cần đi tiểu nhiều vào ban đêm, bạn có thể đã bị suy tim. Suy tim thường là một tình trạng lâu dài và thường diễn ra từ từ. Tuy nhiên, nó có thể phát triển đột ngột, chẳng hạn như sau một cơn nhồi máu cơ tim.
Hơn nữa, khi nhịp tim đập chậm lượng máu cần bơm để đáp ứng nhu cầu của cơ thể không được duy trì, nó sẽ gây ra biến chứng suy tim. Khi tim mất khả năng bơm máu, máu sẽ ứ đọng ở các bộ phận khác của cơ thể, bao gồm phổi, gan, đường tiêu hóa, tay và chân.

Ngừng tim đột ngột (SCA) là tình trạng mất đột ngột mọi hoạt động của tim, tâm thất của tim có thể đập chậm dần và ngừng hẳn, khiến cho hơi thở của người bệnh đột nhiên dừng lại. Người đó sẽ trở nên bất tỉnh, nếu như không được điều trị ngay lập tức, ngừng tim đột ngột có thể dẫn đến tử vong.
Theo phân tích, tâm thất của tim, nơi bơm máu và oxy đến cơ thể không còn hoạt động nên kết quả là lượng máu được đưa lên não không đủ và khiến người bệnh mất ý thức. Ngay cả khi nạn nhân sống sót do được sơ cứu thì vẫn có thể có nguy cơ tổn thương não và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống về sau.
Ngoài những thắc mắc về “Tim đập chậm có sao không?”, người bệnh cũng nên biết các phương pháp điều trị nhịp tim chậm để ngăn các biến chứng nguy hiểm xảy ra bao gồm:
Để ngăn cho tình trạng nhịp tim chậm kéo dài, bạn cần phải phòng ngừa dựa theo các phương pháp như sau:

Sau đây là một số câu hỏi có liên quan đến “nhịp tim chậm có nguy hiểm không?” bao gồm:
Hiện nay, người giữ kỷ lục thế giới về nhịp tim chậm nhất ở người khỏe mạnh với nhịp tim được đo là 26 lần/ phút vào năm 2014. Còn trường hợp với vận động viên đua xe chuyên nghiệp, nhịp tim khi nghỉ ngơi được ghi nhận thấp nhất là 28 lần/ phút. [4]
Nhịp tim dưới 50 có nguy hiểm không? Nhịp tim chậm dưới 50 – 60 lần/ phút có thể nguy hiểm nếu nó đi kèm các triệu chứng điển hình như là chóng mặt, đau ngực, ngất xỉu, khó tập trung, lú lẫn. Còn trường hợp nhịp tim chậm trong lúc nghỉ ngơi và không có triệu chứng bất thường thì có thể đây vẫn trong tình trạng bình thường.
Nhịp tim khi nghỉ ngơi được coi là quá chậm tùy thuộc vào độ tuổi và tình trạng thể chất của mỗi người. Dưới đây là bảng phân tích phạm vi nhịp tim bình thường bao gồm:
Nghiên cứu hiện tại cho biết những người có nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp hơn có nguy cơ nhồi máu cơ tim thấp hơn và họ có xu hướng sống lâu hơn những người có nhịp tim ở mức cao hơn. Nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp hơn có nghĩa là tim bạn hoạt động ít hơn đủ để bơm máu đi khắp cơ thể và do đó có thể hoạt động hiệu quả trong nhiều năm.
Qua bài viết “Nhịp tim chậm có nguy hiểm không?” người bệnh cũng biết được rằng, nhịp tim đập dưới 60 lần/ phút là không bình thường và đây rất có thể là dấu hiệu nguy hiểm. Nếu như bạn cảm thấy cơ thể của mình luôn mệt mỏi, lồng ngực bị đau, chóng mặt, ngất xỉu thì hãy đến bác sĩ kiểm tra ngay lập tức. Hy vọng, những câu hỏi về “Tim đập chậm có nguy hiểm không?” có thể giúp người đọc nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe và luôn bảo vệ tim mạch.