Hiện tượng ra máu sau mãn kinh là một dấu hiệu bất thường của hệ sinh dục nữ và cần được xem xét cẩn thận. Mặc dù phần lớn bắt nguồn từ các rối loạn lành tính nhưng tình trạng này đôi khi cảnh báo bệnh lý ác tính ở tử cung. Việc nhận biết sớm và thăm khám kịp thời giúp phụ nữ bảo vệ sức khỏe, ổn định tâm lý. Cùng ECO Pharma tìm hiểu chi tiết vấn đề này qua bài viết sau.

Hiện tượng ra máu sau mãn kinh (Postmenopausal Bleeding – PMB) là tình trạng chảy máu âm đạo xảy ra sau khi phụ nữ đã ngừng kinh tối thiểu 12 tháng liên tục. Ở giai đoạn này cơ thể không còn chịu ảnh hưởng của chu kỳ nội tiết nên bất kỳ dạng xuất huyết nào dù chỉ là vệt máu nhỏ, dịch màu hồng hoặc nâu, ra máu nhỏ giọt, thậm chí chảy máu nhiều đều được xem là bất thường. Thống kê cho thấy khoảng 10% phụ nữ trên 55 tuổi trải qua hiện tượng này ít nhất một lần trong đời.
Phần lớn trường hợp xuất huyết sau mãn kinh đều lành tính nhưng vẫn có khoảng 10% phụ nữ gặp tình trạng này như một dấu hiệu cảnh báo sớm của ung thư nội mạc tử cung. Do đó khi nhận thấy bị chảy máu, phụ nữ nên trao đổi với bác sĩ để được thăm khám và thực hiện các xét nghiệm cần thiết nhằm loại trừ nguyên nhân bệnh lý nguy hiểm. (1)
Tỷ lệ sau mãn kinh bị ra máu liên quan đến ung thư nội mạc tử cung dao động 10 – 15%, một số nghiên cứu ghi nhận mức 5 – 15%. Điều này lý giải vì sao các chuyên gia luôn khuyến cáo thăm khám ngay khi xuất hiện chảy máu dù chỉ xảy ra một lần. Khoảng 85 – 90% trường hợp lại do nguyên nhân lành tính như rối loạn nội tiết, polyp, teo niêm mạc, viêm nhiễm. Tuy nhiên chảy máu sau mãn kinh vẫn là dấu hiệu thường gặp nhất của ung thư nội mạc tử cung, với hơn 90% người mắc bệnh đều có biểu hiện này.
Nếu gặp phải phụ nữ không nên hoảng sợ nhưng không được chủ quan; thăm khám sớm sẽ giúp loại trừ nguy cơ ác tính và giảm áp lực tâm lý.
Hiện tượng ra máu sau mãn kinh có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân: (2)
Bên cạnh HRT tác dụng phụ của các loại thuốc chống đông như warfarin, aspirin, thuốc giảm đau kháng viêm (NSAID), thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI và một số thảo dược như nhân sâm cũng có thể gây chảy máu.

Hiện tượng ra máu sau mãn kinh có biểu hiện rất đa dạng, tùy từng cơ địa và mức độ tổn thương của hệ sinh dục.
Một số dạng xuất huyết thường gặp gồm: (3)
Ngoài chảy máu một số phụ nữ còn có thể gặp thêm các triệu chứng đi kèm:
Đặc biệt trong giai đoạn đầu mãn kinh, nhiều phụ nữ dễ nhầm lẫn giữa kỳ kinh muộn và xuất huyết bất thường. Vì vậy khi khám sản phụ khoa sẽ cần loại trừ các nguyên nhân bệnh lý trước khi kết luận đó chỉ là hiện tượng kinh nguyệt muộn.
Tình trạng sau mãn kinh bị ra máu có thể gặp ở mọi phụ nữ nhưng một số người có nguy cơ cao hơn do mắc các yếu tố làm tăng khả năng xuất hiện bệnh lý tại tử cung.
Các yếu tố thường gặp gồm:
Để xác định nguyên nhân gây hiện tượng ra máu sau mãn kinh bác sĩ sẽ khai thác kỹ bệnh sử, đánh giá triệu chứng và tiến hành khám lâm sàng. Tùy trường hợp, người bệnh có thể được chỉ định một hoặc nhiều xét nghiệm sau: (4)

Phác đồ điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra hiện tượng ra máu sau mãn kinh. Ngoài ra bác sĩ còn cân nhắc tình trạng sức khỏe, bệnh lý đi kèm, mức độ xuất huyết và mong muốn của người bệnh để đưa ra phương án phù hợp. (5)
Trường hợp này chỉ xuất huyết nhẹ, thường tự cầm máu và đôi khi không cần điều trị. Khi bị khô rát phụ nữ có thể dùng chất bôi trơn hoặc gel dưỡng ẩm âm đạo không chứa hormone. Nếu triệu chứng dai dẳng, estrogen bôi tại chỗ là lựa chọn ưu tiên. Ngoài ra liệu pháp hormone đường uống hoặc thuốc điều biến thụ thể estrogen (như ospemifene) cũng được cân nhắc khi những biện pháp tại chỗ khác không hiệu quả.
Khoảng 30% trường hợp sau mãn kinh bị ra máu liên quan đến polyp. Mặc dù đa phần polyp là lành tính nhưng tỷ lệ ác tính lại tăng ở phụ nữ sau mãn kinh. Vì vậy polyp gây triệu chứng cần được cắt bỏ và xét nghiệm mô học. Ngay cả khi polyp không gây triệu chứng phụ nữ thuộc nhóm nguy cơ cao như polyp kích thước lớn, đang dùng tamoxifen, béo phì hoặc mắc tiểu đường vẫn nên xem xét điều trị bằng phẫu thuật. Trong các lựa chọn hiện có nội soi buồng tử cung là phương pháp được ưu tiên vì cho phép bác sĩ quan sát trực tiếp vào buồng tử cung và lấy mẫu mô một cách chính xác.
Đa phần u xơ tử cung đều lành tính và sẽ tự teo sau mãn kinh. Tuy vậy vẫn có những trường hợp đặc biệt ở phụ nữ thừa cân, béo phì, u xơ tiếp tục lớn lên gây triệu chứng khó chịu. Khi đó bác sĩ có thể chỉ định điều trị bằng thuốc như chất ức chế aromatase, thuốc điều biến thụ thể estrogen hoặc can thiệp phẫu thuật như bóc u xơ, cắt tử cung. Vì các phương tiện chẩn đoán hình ảnh không thể loại trừ hoàn toàn nguy cơ ác tính, bác sĩ sẽ trao đổi chi tiết với người bệnh để lựa chọn hướng điều trị an toàn và phù hợp.
Các bệnh nhiễm trùng vùng kín bao gồm viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung hoặc nhiễm trùng đường tiểu đều có thể gây hiện tượng ra máu sau mãn kinh. Việc lựa chọn thuốc điều trị phụ thuộc vào kết quả nuôi cấy dịch âm đạo hoặc xét nghiệm vi sinh giúp xác định chính xác tác nhân gây bệnh. Trong trường hợp viêm nội mạc tử cung bác sĩ thường chỉ định uống doxycycline hoặc kháng sinh phù hợp khác để kiểm soát nhiễm trùng và ngăn ngừa tái phát.
Các ung thư của cơ quan sinh dục ngoài như ung thư cổ tử cung, âm đạo – âm hộ được điều trị tùy theo giai đoạn tiến triển của bệnh. Bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật để cắt bỏ tổn thương hoặc cắt tử cung nếu cần; kết hợp xạ trị nhằm tiêu diệt tế bào ung thư tại vùng tổn thương; hoặc hóa trị trong các trường hợp bệnh lan rộng, di căn hay cần hỗ trợ xạ trị. Toàn bộ phác đồ sẽ được bác sĩ chuyên khoa đánh giá và xây dựng sao cho phù hợp với từng trường hợp.
Tăng sản nội mạc tử cung được chia thành dạng lành tính và dạng tân sinh nội biểu mô. Điều trị có thể bao gồm dùng hormone hoặc phẫu thuật, tùy tình trạng của người bệnh. Ung thư nội mạc tử cung phải được điều trị bằng phẫu thuật cắt tử cung triệt để, có thể kết hợp hóa trị hoặc xạ trị.
Đối với tăng sản nội mạc tử cung lành tính, bác sĩ có thể chỉ định:
Nếu điều trị nội khoa, người bệnh cần sinh thiết lại sau 3 – 6 tháng để đánh giá đáp ứng.
Một số thuốc có thể gây ra hoặc làm nặng thêm hiện tượng ra máu sau mãn kinh, đặc biệt là:
Không phải mọi trường hợp có máu ở vùng sinh dục đều là xuất huyết âm đạo. Một số phụ nữ sau mãn kinh có thể bị tiểu máu do teo niêm mạc đường tiết niệu hoặc nhiễm trùng bàng quang. Đôi khi là chảy máu từ ống tiêu hóa dưới như bệnh trĩ hoặc viêm túi thừa dễ nhầm với chảy máu âm đạo.
Lúc này điều trị hoàn toàn phụ thuộc nguyên nhân, nếu tiểu máu cần bác sĩ tiết niệu thăm khám, làm xét nghiệm nước tiểu hoặc siêu âm đường tiểu. Đối với xuất huyết tiêu hóa bác sĩ sẽ đánh giá và điều trị bằng thuốc chống viêm, kháng sinh hoặc can thiệp phẫu thuật nếu cần.

>>> Xem thêm: Mãn kinh xong có kinh lại có bình thường không?
Để hạn chế tái phát hiện tượng ra máu sau mãn kinh, phụ nữ cần chủ động chăm sóc sức khỏe sinh sản và duy trì theo dõi y tế thường xuyên. Mặc dù không thể loại bỏ hoàn toàn mọi nguyên nhân nhiều yếu tố nguy cơ vẫn có thể được kiểm soát hiệu quả khi có kế hoạch chăm sóc phù hợp.
Khám phụ khoa định kỳ
Khám Sản phụ khoa 6 – 12 tháng/lần giúp phát hiện sớm bất thường ở nội mạc tử cung, cổ tử cung và buồng trứng. Khi cần thiết bác sĩ có thể chỉ định siêu âm qua ngã âm đạo, PAP test hoặc sinh thiết để đánh giá chính xác nguyên nhân. Có thể đến Trung tâm Sản Phụ khoa – Hệ thống Bệnh viện Tâm Anh để thăm khám, hệ thống máy móc hiện đại và phác đồ điều trị cá thể hóa hỗ trợ phát hiện sớm bệnh lý và nâng cao hiệu quả chăm sóc phụ nữ sau mãn kinh.
Theo dõi chặt chẽ khi dùng hormone, thuốc dài hạn
Những người dùng liệu pháp hormone thay thế (HRT) hoặc thuốc dài hạn như chống đông, NSAID, thuốc chống trầm cảm cần được theo dõi kỹ hơn. Nếu có bất kỳ dấu hiệu chảy máu nào cần thông báo ngay cho bác sĩ. Không tự ý ngưng hoặc điều chỉnh liều thuốc. Đối với trường hợp dùng HRT lâu dài kiểm tra định kỳ nội mạc tử cung là rất cần thiết để phòng ngừa biến chứng nguy hiểm.
Kiểm soát cân nặng, rối loạn nội tiết
Béo phì làm tăng estrogen ngoại vi khiến nội mạc tử cung dễ dày lên và gây xuất huyết. Vì vậy phụ nữ sau mãn kinh cần giữ cân nặng ổn định bằng chế độ ăn khoa học, kiểm soát lượng calo nạp vào mỗi ngày. Bên cạnh đó quản lý tốt bệnh tiểu đường và rối loạn tuyến giáp giúp ổn định hormone, giảm nguy cơ xuất huyết tái phát; Đồng thời tập luyện đều đặn, ưu tiên các bài tập phù hợp với tuổi mãn kinh như đi bộ, yoga, bơi lội; bỏ rượu bia và tránh hút thuốc cũng góp phần bảo vệ niêm mạc tử cung, cải thiện sức khỏe.
Điều trị triệt để các viêm nhiễm vùng kín
Viêm âm đạo, viêm cổ tử cung hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu nếu không điều trị đúng phác đồ dễ tái phát và gây ra chảy máu sau mãn kinh. Người bệnh cần tuân thủ dùng kháng sinh theo chỉ định, vệ sinh vùng kín đúng cách và tăng cường sức đề kháng bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý cùng ngủ đủ giấc 7 – 9 tiếng mỗi đêm.
Chăm sóc niêm mạc âm đạo sau mãn kinh
Suy giảm estrogen khiến niêm mạc âm đạo mỏng, dễ tổn thương và chảy máu. Lúc này có thể dùng kem dưỡng ẩm âm đạo thường xuyên, sử dụng chất bôi trơn khi quan hệ và trao đổi với bác sĩ về estrogen bôi tại chỗ là những biện pháp hữu ích để giảm khô rát, hạn chế xuất huyết tái phát.
Nhận biết sớm các dấu hiệu bất thường
Việc theo dõi triệu chứng giúp ngăn ngừa biến chứng. Người bệnh nên ghi lại thời điểm xuất huyết, lượng máu và dấu hiệu đi kèm. Nếu chảy máu tái diễn, xuất hiện đau vùng chậu, khí hư lẫn máu hoặc sụt cân bất thường, cần đi khám ngay để được xử trí kịp thời.
Theo dõi lâu dài sau điều trị polyp, u xơ, tăng sản nội mạc
Phụ nữ từng điều trị polyp nội mạc tử cung, u xơ tử cung hoặc tăng sản nội mạc cần tái khám theo đúng lịch, thường là 3 – 6 tháng/lần trong năm đầu. Đối với các trường hợp điều trị nội khoa tăng sản nội mạc, sinh thiết lặp lại có thể được chỉ định để đánh giá đáp ứng. Mọi thay đổi về dịch âm đạo hoặc xuất huyết cần được thông báo ngay cho bác sĩ để tránh bỏ sót bất thường.
Hiện tượng ra máu sau mãn kinh không chỉ gây lo lắng, đôi khi còn là dấu hiệu cảnh báo sớm của những bệnh lý quan trọng. Việc theo dõi lâu dài, khám định kỳ, chủ động chăm sóc sức khỏe sinh sản sẽ giúp phụ nữ phát hiện sớm bất thường và được điều trị kịp thời, bảo vệ tốt sức khỏe trong giai đoạn hậu mãn kinh. Nếu có bất kỳ dấu hiệu nghi ngờ, hãy tìm đến bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn và hỗ trợ phù hợp.