Nhịp tim chậm phổ biến hơn ở người trên 65 tuổi và hiếm xảy ra ở trẻ em, có thể gây hụt hơi, mệt mỏi, kiệt sức, chóng mặt… Vậy nhịp tim chậm bao nhiêu là nguy hiểm? Hãy cùng theo dõi bài viết của ECO Pharma để hiểu rõ hơn. [1]

Nhịp tim chậm bao nhiêu là nguy hiểm? Nhịp tim chậm là khi nhịp tim dưới 60 lần/phút. Nghiên cứu cho thấy nhịp tim có chu kỳ sinh học thay đổi trong ngày với nhịp tim cao hơn vào lúc 14 – 17 giờ và thấp hơn vào lúc 4 – 6 giờ. Khi ngủ, nhịp tim giảm trung bình 24 lần/phút ở người trẻ và 14 lần/phút ở người trên 80 tuổi. Phụ nữ có nhịp tim nhanh hơn nam giới trung bình 10 lần/phút trong lúc thức lẫn ngủ.
Nhịp tim chậm nguy hiểm vì tim không thể bơm đủ oxy máu đến các cơ quan trong cơ thể. Lúc này, tim không cung cấp đủ oxy cho não dễ dẫn đến chóng mặt, khó thở và ngất xỉu. Nhịp tim chậm bao nhiêu là nguy hiểm? Một số trường hợp nghiêm trọng, nhịp tim giảm xuống 30 lần/phút hoặc thấp hơn, có thể gây rối loạn huyết động và ngừng tim. [2]
Xem thêm: Nhịp tim bao nhiêu là nguy hiểm? Chậm hoặc nhanh đều cần lưu ý
Nhịp tim chậm nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời dễ dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như:

Nhịp tim thấp nguy hiểm khiến lượng máu lên não không đủ làm người bệnh xuất hiện các triệu chứng như mệt mỏi hoặc kiệt sức, chóng mặt, choáng váng, lú lẫn, ngất xỉu, hụt hơi, dễ mệt mỏi khi tập luyện, đau tức ngực.
Để biết nhịp tim thấp bao nhiêu là nguy hiểm, bác sĩ sẽ chẩn đoán dựa trên khám sức khỏe và các xét nghiệm như:
Xét nghiệm này đo hoạt động điện tim bằng cách gắn các cảm biến (điện cực) dán lên da ngực và tay chân, chúng ghi lại hoạt động điện của tim và cho biết chính xác nhịp tim.
Thiết bị này dùng để ghi lại hoạt động điện của tim, liên tục trong khoảng 24 giờ, giúp bác sĩ theo dõi nhịp tim trong thời gian dài hơn.
Xét nghiệm này thực hiện để biết nhịp tim chậm bao nhiêu là nguy hiểm, cách tim hoạt động khi vận động bằng cách đạp xe tập thể dục hoặc đi bộ trên máy chạy bộ.
Để biết nhịp tim chậm bao nhiêu là nguy hiểm, bác sĩ sẽ yêu cầu làm xét nghiệm này nếu nhịp tim chậm gây ra ngất xỉu. Nhịp tim và huyết áp của người bệnh sẽ được kiểm tra khi họ nằm ngửa trên bàn. Sau đó, bàn sẽ nghiêng để đưa người bệnh vào tư thế đứng, lúc này, bác sĩ sẽ theo dõi cách tim và hệ thần kinh phản ứng khi tư thế thay đổi.
Chụp CT hoặc MRI giúp phát hiện các vấn đề về tim gây ra nhịp tim chậm. Để hình ảnh rõ nét hơn, bác sĩ thường dùng thêm chất tương phản (chất cản quang hoặc cản từ) tiêm qua đường tĩnh mạch.
Thủ thuật này thực hiện bằng cách đưa ống thông dài và mỏng luồn qua động mạch đến tim (thông tim) để kiểm tra hoạt động điện của tim, giúp chẩn đoán nhịp tim chậm.
“Nhịp tim chậm bao nhiêu là nguy hiểm, cách điều trị thế nào?” – Các cách để điều trị nhịp tim chậm nguy hiểm như:
Nếu nhịp tim chậm gây ra huyết áp thấp nguy hiểm, bác sĩ có thể dùng thuốc tiêm tĩnh mạch (IV) như atropine để tim đập nhanh hơn. Những phương pháp điều trị bằng thuốc thường được thực hiện trong bệnh viện vì cần theo dõi và chăm sóc bổ sung. Ngoài ra, người bệnh cũng có thể dùng thuốc uống hằng ngày để cải thiện chức năng và điều chỉnh nhịp tim.

Phương pháp này dùng một thiết bị có các điện cực được gắn vào da ngực. Qua các điểm tiếp xúc, một dòng điện nhẹ đi vào cơ thể kích thích tim đập. Đây là phương pháp điều trị ngắn hạn dùng cho những người cần máy tạo nhịp tim vĩnh viễn hoặc nhịp tim chậm tạm thời.
Đối với người mắc nhịp tim thấp nguy hiểm, máy tạo nhịp tim vĩnh viễn được xem là phương pháp tối ưu khi các tế bào điều hòa nhịp tim tự nhiên không hoạt động bình thường. Mặc dù máy tạo nhịp tim vĩnh viễn không thể chữa khỏi hoàn toàn nhịp tim chậm, nhưng lại là giải pháp lâu dài, giúp ngăn ngừa các vấn đề liên quan.
Hầu hết các máy tạo nhịp tim vĩnh viễn có thể dùng trong vài năm và một số có pin kéo dài hơn 10 năm. Việc cấy ghép máy tạo nhịp tim vĩnh viễn cần phẫu thuật, bác sĩ sẽ tạo một túi nhỏ dưới da để đặt thiết bị vào, sau đó kết nối các dây dẫn tới các điểm khác nhau trên tim. Hiện nay, có các máy tạo nhịp tim không dây, thiết bị được đưa vào tim qua thông tim.
Nhịp tim chậm nguy hiểm có thể do nhiều nguyên nhân như tổn thương mô tim do bệnh tim mạch. Vì vậy, để ngăn ngừa tình trạng này, bạn cần duy trì lối sống lành mạnh bằng cách:

Ngoài quan tâm nhịp tim chậm bao nhiêu là nguy hiểm, một số người còn thắc mắc:
Đối với người trẻ, vận động viên và những người tập thể dục thường xuyên, nhịp tim thấp (dưới 60 lần/phút) khi nghỉ ngơi có thể là bình thường. Trong khi ngủ, nhịp tim thường chậm lại ở mức 40 – 60 lần/phút.
Nếu nhịp tim giảm xuống quá thấp, thường là dưới 30 lần/phút, não không nhận đủ oxy gây chóng mặt, khó thở và có thể ngất xỉu. Trong trường hợp nghiêm trọng, có thể gây tụt huyết áp, rối loạn huyết động.
Vào ngày 1 tháng 8 năm 2005, Đơn vị Tim mạch và Lồng ngực Guernsey, Quần đảo Channel, nước Anh ghi nhận được nhịp tim thấp nhất là 27 lần/phút ở một người đàn ông khỏe mạnh có tên Martin Brady, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1969. [3]
Nhịp tim chậm bao nhiêu là nguy hiểm? Vì nhịp tim chậm hiếm khi xảy ra ở trẻ em nên nếu trẻ gặp vấn đề này cần đưa trẻ đến bệnh viện kiểm tra ngay. Người trưởng thành và trẻ em có mạch yếu, đau ngực, ngất xỉu hoặc khó chịu khi vận động cũng nên đến bệnh viện.
Bạn nên đi thăm khám khi nhịp tim thay đổi không rõ lý do kéo dài trong vài ngày; nhịp tim chậm kèm các yếu tố nguy cơ như tiểu đường hoặc hút thuốc; tiền sử mắc bệnh tim mạch; nhịp tim thấp cùng triệu chứng ngất xỉu. Nếu lo lắng về nhịp tim chậm nguy hiểm, bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ, đặc biệt nếu có dấu hiệu nhồi máu cơ tim.
Bạn có thể đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh để được các bác sĩ Trung tâm Tim mạch chẩn đoán và điều trị các bệnh tim, mạch máu và lồng ngực. Trung tâm phát triển các kỹ thuật hiện đại, cập nhật các phương pháp và thuốc mới để người bệnh được điều trị tối ưu theo hướng dẫn của Hiệp hội Tim Mạch châu Âu và Hội Tim Mạch Mỹ.

Nhịp tim chậm bao nhiêu là nguy hiểm? Nhịp tim chậm có thể gây tử vong nên mọi người cần thường xuyên kiểm tra nhịp tim, mạch máu và huyết áp. Nhịp tim chậm không phải lúc nào cũng nguy hiểm, chỉ nghiêm trọng khi kèm theo triệu chứng như mệt mỏi, chóng mặt hoặc ngất xỉu, đặc biệt ở trẻ em. Việc duy trì lối sống lành mạnh, theo dõi sức khỏe thường xuyên và chú ý phát hiện các triệu chứng bất thường của cơ thể sẽ giúp bạn phòng ngừa và phát hiện sớm các vấn đề tim mạch.