Phẫu thuật các bộ phận không phải tim vẫn có thể gây ra các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim, đặc biệt là ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Cùng ECO Pharma tìm hiểu rõ hơn về nhồi máu cơ tim trong và sau mổ trong bài viết sau.

Nhồi máu cơ tim trong và sau mổ (PMI) là một trong những yếu tố tiên lượng quan trọng nhất liên quan đến tỷ lệ di chứng và tử vong của các phẫu thuật ngoài tim. Theo một bài nghiên cứu tổng hợp từ Viện Y tế Quốc gia Mỹ năm 2022, mỗi năm có khoảng 300 triệu ca phẫu thuật không phải tim trên toàn thế giới; gần 5% trong số đó sẽ gặp các biến chứng tim mạch bất lợi trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật, chủ yếu là nhồi máu cơ tim và ngừng tim. (1)
Nhồi máu cơ tim trong và sau phẫu thuật có thể đến từ các yếu tố sau đây: (2)
Phẫu thuật xâm lấn cần thực hiện gây mê dẫn đến phản ứng viêm toàn thân cấp tính làm tăng nhu cầu oxy của cơ tim. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra PMI. Bên cạnh đó thời gian phẫu thuật mở kéo dài, hoặc các sự cố trong cuộc mổ (hạ huyết áp, nhịp tim, truyền máu, dùng thuốc làm co mạch) có thể góp phần gây ra PMI.
Hạ huyết áp trong khi mổ đã được chứng minh là một yếu tố nguy cơ rất quan trọng đối với sự phát triển của tổn thương cơ tim. Thời gian hạ huyết áp trong khi phẫu thuật kéo dài hơn (huyết áp động mạch trung bình < 55 mmHg) là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với PMI.
Nhìn chung sinh lý bệnh của nhồi máu cơ tim cấp tính liên quan đến phẫu thuật là đa yếu tố và vẫn còn nhiều tranh cãi. Nó là một hội chứng phức tạp do nhiều nguyên nhân tiềm ẩn khác nhau, bao gồm nhồi máu cơ tim type 1 (T1MI) và nhồi máu cơ tim type 2 (T2MI). Type 1 nhấn mạnh mối quan hệ nhân quả giữa sự phá hủy mảng bám và huyết khối động mạch vành do xơ vữa trong khi type 2 không liên quan gì đến huyết khối xơ vữa động mạch vành cấp tính mà liên quan đến sự mất cân bằng cung cầu oxy.
Một phân tích ở những người trên 75 tuổi cho thấy huyết áp cao, suy tim, bệnh mạch vành, tiểu đường và suy thận giai đoạn cuối là các yếu tố nguy cơ của PMI. Các nhà nghiên cứu cũng đã phát triển một mô hình để dự đoán tỷ lệ tử vong 30 ngày ở những bệnh nhân PMI.
Tuổi trên 75, đoạn ST chênh lên hoặc block nhánh trái mới xuất hiện hoặc thay đổi điện tâm đồ thiếu máu cục bộ trước là những yếu tố dự báo độc lập về tỷ lệ tử vong 30 ngày ở những bệnh nhân PMI. Bên cạnh đó các tình trạng như chảy máu sau phẫu thuật, nhiễm trùng huyết, thiếu oxy, nhịp tim nhanh kéo dài, hạ huyết áp, thiếu máu nặng có liên quan đến PMI.
Để nhận biết nhồi máu cơ tim chu phẫu, bác sĩ cần sàng lọc thường quy mức troponin ở bệnh nhân phẫu thuật không phải tim. Tiêu chuẩn chẩn đoán là sự gia tăng troponin trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật được đánh giá là thiếu máu cục bộ cơ tim, có hoặc không có đau ngực, khó chịu vùng trước tim, thay đổi điện tâm đồ và các đặc điểm khác của thiếu máu cục bộ cơ tim. Ngưỡng troponin của PMI được xác định là (i) troponin T độ nhạy cao (hsTnT) là 20 – 65 ng/L và sự thay đổi tuyệt đối ít nhất là 5 ng/L; (ii) troponin T không độ nhạy cao >30 ng/L.
Do các triệu chứng lâm sàng của PMI không điển hình nên rất khó để xác định PMI dựa trên các triệu chứng lâm sàng. Theo dõi troponin thường quy quanh phẫu thuật là một phương pháp quan trọng để xác định bệnh nhân mắc PMI.
Theo khuyến cáo của Hướng dẫn của Hiệp hội Tim mạch Canada những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch > 5% nên được theo dõi sàng lọc troponin trước phẫu thuật và tiếp tục được sàng lọc trong vòng 3 ngày đầu sau phẫu thuật. Hướng dẫn của Hiệp hội Tim mạch Châu Âu (ESC)/Hiệp hội Gây mê Châu Âu (ESA) và Trường Cao đẳng Tim mạch Mỹ/Hiệp hội Tim mạch Mỹ cũng khuyến cáo đánh giá thường quy troponin tim trong giai đoạn quanh phẫu thuật.

Nhồi máu cơ tim sau phẫu thuật có thể khắc phục được thông qua các phương pháp điều trị như can thiệp động mạch vành qua da (đặt stent) hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG). Điều quan trọng là cần sơ cứu đúng cách và gọi cấp cứu kịp thời vì nhồi máu cơ tim là tình trạng nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của người bệnh.
Một đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp của 530.867 bệnh nhân trải qua phẫu thuật không phải tim trong 169 nghiên cứu cho thấy bệnh nhân mắc PMI có tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật 1 năm cao hơn so với bệnh nhân không mắc PMI. (3)
Việc đánh giá cá thể hóa trước phẫu thuật và đánh giá tim mạch sau phẫu thuật ở bệnh nhân cao tuổi mắc nhiều bệnh lý rất quan trọng để phòng ngừa PMI. Bác sĩ cần điều chỉnh các yếu tố nguy cơ và điều trị nội khoa tim mạch. Trong đó việc phòng ngừa ban đầu bao gồm xác định và điều chỉnh các yếu tố nguy cơ, duy trì cân bằng dịch, điện giải và axit-bazơ trong phẫu thuật, kiểm soát nhịp tim phù hợp, giảm tiêu thụ oxy của cơ tim, tránh thiếu máu cục bộ cơ tim, sử dụng thuốc bảo vệ tim phù hợp, điều trị nhiễm trùng huyết kịp thời,…
Các phương pháp điều trị nội khoa tim mạch bao gồm thuốc chống tiểu cầu, thuốc chẹn β, statin và thuốc ức chế men chuyển angiotensin. Bác sĩ sẽ cân nhắc kỹ lưỡng về lợi ích của việc ngăn ngừa PMI bằng cách sử dụng thuốc chống tiểu cầu và thuốc chống đông máu so với nguy cơ chảy máu sau phẫu thuật.

Bên cạnh việc điều trị theo chỉ định của bác sĩ, trước và sau phẫu thuật, người bệnh cũng cần kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy cơ như huyết áp, mỡ máu, đường huyết; thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh, hạn chế mỡ xấu, muối và bổ sung rau xanh, trái cây; duy trì lối sống năng động với các bài tập nhẹ nhàng; tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ về dùng thuốc, kiểm tra sức khỏe định kỳ và tái khám. Những điều này sẽ góp phần phòng ngừa nhồi máu cơ tim được hiệu quả hơn.
Tóm lại nhồi máu cơ tim trong và sau mổ là tình trạng nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của người bệnh cần được sơ cứu và cấp cứu kịp thời. Việc nhận diện các yếu tố nguy cơ tiền phẫu, cùng với chiến lược theo dõi chặt chẽ trong và sau mổ, đóng vai trò then chốt trong chẩn đoán sớm tình trạng này. Người bệnh nên thực hiện đúng theo các hướng dẫn và tham khảo ý kiến của bác sĩ để bổ sung thêm tinh chất thiên nhiên Policosanol (GDL-5), Apple Cider Vinegar, Red Yeast Rice, Gynostemma,… giúp giảm cholesterol xấu, phòng ngừa xơ vữa động mạch, cục máu đông, hỗ trợ kiểm soát huyết áp hiệu quả.