Sẹo cơ tim có thể khác nhau về kích thước, vị trí và cấu trúc và những đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng bơm máu của tim, mức độ tái cấu trúc thất trái và nguy cơ suy tim về sau. Để hiểu rõ hơn về cơ chế làm cơ tim bị sẹo ra sao, vì sao nó quan trọng mời bạn đọc cùng ECO Pharma tìm hiểu chi tiết ở bài viết dưới đây.

Sẹo cơ tim là vùng mô xơ được hình thành để thay thế phần cơ tim bị hoại tử sau nhồi máu cơ tim hoặc các tổn thương cơ tim khác. Trước đây cơ tim bị sẹo được xem là “mô trơ” chỉ gồm các sợi collagen và không còn chức năng; tuy nhiên các nghiên cứu đã chứng minh mô sẹo là một cấu trúc năng động, chứa các tế bào nguyên bào sợi cơ (myofibroblast) có hệ mạch máu nuôi, duy trì hoạt động chuyển hóa và tiếp tục sản sinh collagen. (1)
Quá trình xơ hóa tạo sẹo xảy ra trong vài tuần nhưng mô sẹo có thể tiếp tục biến đổi theo thời gian. Kích thước, vị trí và tính chất cơ học của sẹo ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng co bóp của tim, mức độ tái cấu trúc thất trái và nguy cơ suy tim sau nhồi máu. Những đặc tính như co rút sẹo, tăng độ cứng thành tim hoặc rối loạn dẫn truyền điện đều có thể làm nặng thêm tình trạng suy giảm chức năng tim.
Cơ chế hình thành sẹo cơ tim do mỗi nguyên nhân không hoàn toàn giống nhau. Ví dụ như cơ chế gây sẹo do nhồi máu cơ tim, khi cơ tim bị thiếu máu kéo dài và tế bào cơ tim hoại tử, cơ thể sẽ kích hoạt một quá trình chữa lành kéo dài nhằm thay thế mô chết bằng mô xơ. Quá trình này diễn ra qua ba giai đoạn chính: viêm, xơ hóa và tái cấu trúc. Mỗi giai đoạn mang đặc điểm sinh lý riêng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng mô sẹo cũng như chức năng tim về lâu dài. Cụ thể là:

Sẹo cơ tim hình thành khi một phần cơ tim bị tổn thương nặng và các tế bào cơ tim không còn khả năng phục hồi. Vì cơ tim hầu như không thể tái tạo nên cơ thể buộc phải thay thế vùng tổn thương bằng mô xơ collagen, tạo nên sẹo. Tổn thương này có thể xảy ra đột ngột hoặc âm thầm kéo dài và được ghi nhận trong các tình trạng tim mạch sau:
Nhồi máu cơ tim là một nguyên nhân quan trọng nhất gây sẹo và xơ hóa cơ tim. Khi mạch vành bị tắc nhiều tế bào cơ tim bị chết và tim gần như không thể tự tạo ra tế bào mới để thay thế. Lúc này cơ thể bắt đầu quá trình tạo sẹo: các tế bào nguyên bào sợi ở tim hoạt động mạnh tạo ra nhiều collagen và lấp vào chỗ cơ tim đã bị chết, hình thành mô sẹo thay thế phần cơ tim bị hoại tử.
Bệnh mạch vành gây thiếu máu âm ỉ, kéo dài dẫn đến cơ tim liên tục ở trong trạng thái thiếu oxy nhẹ nhưng dai dẳng gây tổn thương các tế bào cơ tim lặp đi lặp lại. Để đáp ứng với tình trạng này cơ thể dần kích hoạt nguyên bào sợi tim, tăng sản xuất collagen và lắng đọng vào khoảng kẽ giữa các sợi cơ tim, theo thời gian collagen tích tụ tạo nên sẹo và xơ hoá cơ tim.

Viêm cơ tim là một nguyên nhân khá điển hình gây sẹo cơ tim. Khi cơ tim bị viêm (thường do virus, vi khuẩn, thuốc hoặc bệnh tự miễn) tế bào viêm tràn vào cơ tim, làm tế bào cơ tim bị tổn thương hoặc chết. Sau khi giai đoạn viêm cấp qua đi vùng cơ tim hư hại này không thể hồi phục như cũ mà dần được thay thế bằng mô sẹo.
Các trường hợp phẫu thuật tim như phẫu thuật van tim và phẫu thuật tim bẩm sinh đều có thể để lại sẹo trong cơ tim và làm tăng xơ hóa cơ tim. Khi mổ tim mở bác sĩ phải cắt, mở và khâu trực tiếp lên thành tim, vòng van hoặc các buồng tim nên những vùng này sẽ lành lại bằng mô sẹo chứa nhiều collagen.
Trong lúc phẫu thuật tim cũng có giai đoạn bị ngừng hoặc giảm tưới máu rồi được tái tưới máu dễ gây thêm tổn thương rải rác cho cơ tim, sau đó cũng được thay thế bằng mô xơ. Ở người bệnh van tim mạn hoặc tim bẩm sinh tim vốn đã bị quá tải và có thể có xơ hóa từ trước phẫu thuật làm lượng sẹo tăng lên theo thời gian. Nghiên cứu cho thấy càng nhiều sẹo và xơ hóa cơ tim sau các loại phẫu thuật này thì chức năng tim càng dễ suy giảm và nguy cơ suy tim, rối loạn nhịp về lâu dài càng cao.
Không phải ai có sẹo cơ tim cũng có triệu chứng nhưng khi vùng sẹo nhiều hoặc lan rộng, người bệnh thường gặp một hoặc nhiều biểu hiện sau:

Sẹo cơ tim lớn hoặc xơ hóa lan tỏa làm tim cứng hơn và co bóp yếu đi từ đó dễ gây suy tim với các triệu chứng như nhanh mệt, hụt hơi khi gắng sức, phù chân, bụng trướng… Các nghiên cứu về xơ hóa cơ tim cho thấy mức độ xơ hóa càng nhiều thì chức năng tim càng kém, nguy cơ nhập viện vì suy tim và tử vong tim mạch càng cao. (2)
Cơ tim bị sẹo cũng là yếu tố nền gây rối loạn nhịp tim. Mô sẹo làm đứt quãng, quanh co đường dẫn truyền điện trong tim, tạo điều kiện cho các vòng vào lại từ đó dễ xuất hiện nhịp nhanh thất, rung thất hoặc các rối loạn nhịp nguy hiểm khác.
Nhiều phân tích gộp dùng cộng hưởng từ tim (đánh giá sẹo bằng kỹ thuật tăng sáng muộn – LGE) cho thấy chỉ cần có LGE đã làm tăng rõ nguy cơ tử vong tim mạch, rối loạn nhịp thất và biến cố suy tim; gánh nặng sẹo (phần trăm thất trái có LGE) càng lớn thì nguy cơ các biến cố này càng tăng. (3)
Tuy nhiên không phải sẹo nào cũng nguy hiểm như nhau. Một số người chỉ có sẹo nhỏ, khu trú, phân suất tống máu vẫn tốt, gần như không có triệu chứng, chỉ cần theo dõi định kỳ. Nhưng nhóm nguy cơ cao hơn (có xơ hóa lan tỏa hoặc LGE nhiều trên cộng hưởng từ tim) cần kiểm soát chặt chẽ bệnh nền, dùng thuốc suy tim, điều trị rối loạn nhịp (ví dụ đặt ICD) và tái khám đều đặn vì sẹo cơ tim về bản chất luôn là một yếu tố tiên lượng xấu.
Hiện nay có nhiều kỹ thuật khác nhau giúp bác sĩ phát hiện và đánh giá sẹo/xơ hóa cơ tim. Mỗi kỹ thuật có ưu và nhược điểm riêng, thường được dùng phối hợp chứ không thay thế nhau hoàn toàn.
Điện tâm đồ là xét nghiệm đơn giản, rẻ, thường được thực hiện đầu tiên. Thủ thuật hoàn toàn không đau, không châm chích, không xâm lấn, mặc dù không nhìn thấy sẹo trực tiếp nhưng nó có thể gợi ý tim từng tổn thương qua sóng Q bệnh lý, thay đổi ST–T hoặc rối loạn nhịp. Điện tâm đồ chủ yếu dùng để sàng lọc và theo dõi chứ không phải phương pháp tiêu chuẩn để đo chính xác lượng sẹo cơ tim.

Siêu âm tim cho phép quan sát trực tiếp cấu trúc và vận động của mô cơ tim. Những vùng cơ tim mỏng, giảm vận động hoặc không vận động thường gợi ý sẹo sau nhồi máu cơ tim. Ở các bệnh tim mạn như bệnh van tim, huyết áp cao, bệnh cơ tim… siêu âm còn cho thấy thất giãn, thành tim dày hoặc giảm đàn hồi, gián tiếp cho thấy có xơ hóa lan tỏa.
Chụp MRI tim (CMR) là phương pháp quan trọng nhất để phát hiện sẹo và xơ hóa cơ tim. Khi tiêm thuốc cản từ gadolinium và chụp theo kỹ thuật “tăng sáng muộn” (LGE) vùng cơ tim bị sẹo sẽ hiện lên sáng hơn bình thường. Trong bệnh mạch vành sẹo thường nằm sát lớp trong của thành tim (dưới nội mạc) hoặc ăn hết bề dày thành tim; còn trong bệnh cơ tim giãn, viêm cơ tim, tim bẩm sinh… sẹo thường nằm ở lớp giữa hoặc lớp ngoài của thành tim.

Xạ hình tưới máu cơ tim sử dụng chất phóng xạ để đánh giá mức độ máu nuôi cơ tim và khả năng sống còn của cơ tim, đặc biệt hữu ích trong bệnh mạch vành. Vùng cơ tim đã hoại tử và trở thành sẹo thường hiện lên như vùng “khuyết xạ cố định” (giảm tưới máu cả lúc nghỉ và gắng sức), trong khi vùng thiếu máu còn hồi phục chỉ giảm tưới máu khi gắng sức. Ngoài ra kỹ thuật này còn có thể giúp phân biệt mô sống, mô viêm và mô sẹo trong một số bệnh đặc biệt.
Sẹo cơ tim khi đã hình thành thì không có cách nào để đảo ngược, nhất là sẹo sau nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên điều trị vẫn rất quan trọng để giảm gánh nặng cho tim, bớt khó thở, giảm nguy cơ suy tim và rối loạn nhịp, đồng thời kiểm soát sẹo lan rộng. Hướng điều trị chính là dùng thuốc và thay đổi lối sống (không phẫu thuật) và các thủ thuật hoặc phẫu thuật tim nếu bác sĩ thấy cần thiết. Cụ thể như sau:
Điều trị không cần phẫu thuật chủ yếu nhằm giữ cho tim không bị hư hại thêm giúp tim bơm máu tốt hơn và giảm nguy cơ suy tim, rối loạn nhịp. Ở đa số người có sẹo cơ tim bác sĩ sẽ bắt đầu từ thuốc và lối sống trước, sau đó mới cân nhắc can thiệp sâu hơn nếu cần.

Phẫu thuật / can thiệp thường được cân nhắc khi thuốc và các biện pháp lối sống ít hiệu quả hoặc khi có tổn thương cấu trúc rõ ràng (mạch vành, van tim, dị tật…) cần “sửa lại” để bảo vệ phần cơ tim còn lành. Mục tiêu không phải là xóa sẹo đã có mà là xử lý nguyên nhân, bảo vệ cơ tim còn sống và giảm nguy cơ suy tim, loạn nhịp về sau.

Để sống chung an toàn với sẹo cơ tim điều quan trọng nhất là bạn cần tuân thủ điều trị từ bác sĩ. Bao gồm uống thuốc đúng liều, đúng giờ, không tự ý bỏ thuốc hay giảm liều dù thấy đỡ. Nếu xuất hiện triệu chứng lạ như choáng, phù nhiều, ho tăng, hồi hộp, tim đập chậm hoặc nhanh bất thường… hãy gọi ngay cho bác sĩ để được điều chỉnh, không tự xử lý ở nhà.
Bạn cũng cần kiểm soát tốt các bệnh nền như tăng huyết áp, mỡ máu cao, đái tháo đường, bệnh mạch vành, bệnh van tim… vì nếu các bệnh này không ổn định, cơ tim sẽ tiếp tục bị quá tải và dễ xuất hiện thêm sẹo.
Song song với việc dùng thuốc là cần điều chỉnh thói quen sống tốt cho sức khỏe tim (bỏ hẳn thuốc lá, rượu bia, ăn giảm muối, bớt đồ chiên rán và mỡ động vật; tăng rau xanh, cá, thịt nạc và giữ cân nặng hợp lý; duy trì vận động nhẹ đến vừa như đi bộ, đạp xe chậm, tập thở, yoga nhẹ và dừng tập ngay nếu đau ngực, khó thở, choáng hoặc hồi hộp bất thường; cố gắng ngủ đủ 8 tiếng mỗi ngày và tránh stress kéo dài). Tái khám định kỳ theo lịch hẹn cũng cần thiết giúp kiểm tra huyết áp, điện tim, siêu âm tim, xét nghiệm và điều chỉnh thuốc khi cần.

Tóm lại sẹo cơ tim là hậu quả của nhiều bệnh tim như nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành, thiếu máu cơ tim mạn, viêm cơ tim hay sau phẫu thuật tim (van tim, tim bẩm sinh…). Mô sẹo giúp vá lại vùng tổn thương nhưng nếu nhiều và lan tỏa, tim sẽ co bóp kém dễ suy tim và rối loạn nhịp. Sẹo đã hình thành thường không xóa được nên mục tiêu điều trị là kiểm soát tốt bệnh nền, dùng thuốc bảo vệ tim, can thiệp/phẫu thuật khi cần và thay đổi lối sống để bảo vệ phần cơ tim còn lành.