Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn cầu, cướp đi sinh mạng của khoảng 17.9 triệu người mỗi năm [1]. Thuốc tim mạch giúp kiểm soát các triệu chứng và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm như đột quỵ, nhồi máu cơ tim hoặc tử vong. Cùng ECO Pharma tìm hiểu các nhóm thuốc tim mạch thường dùng, phổ biến trong bài viết sau đây.

Thuốc tim mạch là nhóm thuốc điều trị các vấn đề liên quan đến tim và hệ tuần hoàn. Thuốc được sử dụng để kiểm soát và cải thiện các tình trạng bệnh lý như rối loạn nhịp tim, huyết áp cao, huyết áp thấp, cholesterol cao, suy tim, đột quỵ, huyết khối (cục máu đông) và bệnh động mạch vành.
Các nhóm thuốc tim mạch là thuốc được dùng theo đơn kê của bác sĩ, bao gồm nhiều loại khác nhau và mỗi loại sẽ có cơ chế hoạt động riêng. Một số loại thuốc về tim mạch hoạt động bằng cách tác động trực tiếp lên mạch máu xung quanh tim và giảm áp lực lên tim. Một số khác sẽ giúp giảm cholesterol, ngăn ngừa sự tích tụ của các mảng bám làm thành động mạch bị xơ cứng, cản trở lưu lượng máu tuần hoàn gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong.
Ngoài ra, có những loại thuốc về tim mạch còn tác động lên thận để tăng cường đào thải nước và muối hoặc cải thiện lưu lượng máu đến thận. Tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng người bệnh, bác sĩ sẽ kê đơn thuốc tim mạch phù hợp. Bên cạnh đó, trong quá trình điều trị bác sĩ chuyên khoa có thể kết hợp nhiều loại thuốc tim mạch khác nhau để đem lại hiệu quả cao cho việc chữa trị bệnh.
Sau đây là một số tác dụng chính của thuốc tim mạch mới:

Trên thị trường có nhiều loại thuốc được sử dụng để điều trị các bệnh tim mạch khác nhau. Dưới đây là danh sách các nhóm thuốc tim mạch thường dùng:
Thuốc điều trị tăng huyết áp hay còn gọi thuốc hạ áp là nhóm thuốc kê đơn, có tác dụng giãn mạch, làm giảm kháng lực mạch máu, lợi tiểu và kiểm soát huyết áp để đưa huyết áp về mức an toàn. Thuốc giúp ngăn ngừa các biến chứng, giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp bao gồm:
Tùy thuộc vào độ tuổi, chỉ số huyết áp, tình trạng sức khỏe của người bệnh mà bác sĩ có thể kê đơn các loại thuốc huyết áp phù hợp. Hiện nay, hầu hết các loại thuốc huyết áp được uống dưới dạng viên nén một lần một ngày.

Nhóm thuốc chống đông máu (thuốc làm loãng máu) là thuốc kê đơn, giúp giảm khả năng đông tụ của máu, ngăn ngừa cục máu đông hình thành và phát triển lớn hơn trong mạch máu. Thuốc được sử dụng để điều trị một số bệnh về mạch máu, tim và phổi. Thuốc chống đông máu thường được bác sĩ kê đơn để ngăn ngừa đột quỵ, nhồi máu cơ tim lần đầu tiên hoặc tái phát.
Một số loại thuốc chống đông máu thường được kê đơn gồm có: apixaban (eliquis), dabigatran (pradaxa), edoxaban (savaysa), heparin (various), rivaroxaban (xarelto), warfarin (coumadin). Thuốc chống chỉ định với người dị ứng thuốc chống đông, người bị rối loạn đông máu bẩm sinh, suy thận nặng, xuất huyết não, tiền sử xuất huyết giảm tiểu cầu,…
Tiểu cầu đóng vai trò quan trọng trong quá trình đông máu và hình thành nút tiểu cầu ngăn ngừa chảy máu. Nhóm thuốc chống kết tập tiểu cầu là thuốc kê đơn được sử dụng để ngăn tiểu cầu kết dính nhau. Thuốc dùng để giảm nguy cơ hình thành cục máu đông ở những người đã từng bị nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực không ổn định hoặc đột quỵ do thiếu máu cục bộ, TIA và các bệnh tim mạch khác.
Thuốc chống kết tập tiểu cầu cũng có thể được dùng để phòng ngừa cục máu đông hình thành trên các mảng xơ vữa trong mạch máu chưa gây ra tình trạng tắc nghẽn đáng kể trong động mạch. Một số người bệnh mới bị nhồi máu cơ tim hoặc trải qua phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG) sẽ được bác sĩ kê đơn thuốc aspirin kết hợp với một loại thuốc chống tiểu cầu khác (gọi là liệu pháp chống tiểu cầu kép DAPT) nhằm ngăn ngừa hình thành cục máu đông.
Các loại thuốc chống kết tập tiểu cầu gồm có: aspirin, clopidogrel (plavix), dipyridamole (persantine), prasugrel (effient), ticagrelor (brilinta). Thuốc chống kết tập tiểu cầu có thể tương tác với một số loại thuốc theo toa khác, thuốc không theo toa, vitamin, khoáng chất, thực phẩm bổ sung, thảo mộc,…
Do đó, người bệnh cần trao đổi với bác sĩ để được kê đơn thuốc và điều chỉnh liều lượng uống phù hợp với tình trạng sức khỏe bản thân. Thuốc chống chỉ định với phụ nữ đang mang thai, người có bệnh về thận hoặc gan, viêm loét dạ dày, xuất huyết não và dị ứng với thuốc chống tiểu cầu trước đây.
Thuốc điều trị loạn nhịp là một nhóm thuốc kê đơn được sử dụng để ổn định nhịp tim, điều trị loạn nhịp tim (tim đập quá nhanh hoặc quá chậm). Thuốc có thể làm giảm các triệu chứng khó chịu phổ biến của loạn nhịp tim như đau ngực, ngất xỉu, choáng váng, tim đập nhanh, hụt hơi. Theo phân loại Vaughan-Williams, thuốc chống loạn nhịp tim được phân thành 4 nhóm chính gồm:
Ngoài ra, hai loại thuốc chống loạn nhịp tim không có trong hệ thống phân loại VW là:
Tuy nhiên, thuốc chống loạn nhịp tim có thể tương tác với một số loại thuốc khác. Do đó, người bệnh nên trao đổi với bác sĩ tim mạch hoặc dược sĩ trước khi sử dụng thuốc chống loạn nhịp tim.

Xem thêm: Thuốc Cozaar 50mg
Nhóm thuốc điều trị suy tim được bác sĩ kê đơn để làm giảm các triệu chứng, làm chậm quá trình tiến triển của bệnh và giúp tim hoạt động tốt hơn, dễ dàng bơm máu đi khắp cơ thể. Thuốc không thể chữa khỏi bệnh suy tim mà chỉ có tác dụng kiểm soát bệnh và các triệu chứng của bệnh. Các loại thuốc điều trị suy tim phổ biến bao gồm:
Thuốc giúp giãn các mạch máu để tim bơm máu tốt hơn, kiểm soát huyết áp và giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim. Thuốc ACE thường được kê đơn bao gồm benazepril (lotensin), captopril (capoten), enalapril (vasotec, fosinopril (monopril), lisinopril (prinivil, zestril),…
Thuốc chẹn thụ thể angiotensin II ngăn không cho angiotensin II tác động lên tim và mạch máu, giúp huyết áp không tăng. Một số loại thuốc ARB sử dụng để điều trị hoặc cải thiện triệu chứng của bệnh tim mạch (huyết áp cao và suy tim) bao gồm candesartan, losartan, telmisartan và valsartan.
Còn được gọi là thuốc chẹn beta-adrenergic, có tác dụng làm chậm nhịp tim, giúp hạ huyết áp và bảo vệ tim khỏi tác động của adrenaline và noradrenaline, đây là một trong những tứ trụ suy tim trong điều trị bệnh. Thuốc được kê đơn để điều trị nhồi máu cơ tim, huyết áp cao, đau thắt ngực, chứng loạn nhịp tim và ngăn ngừa các cơn nhồi máu cơ tim trong tương lai ở những người đã từng bị nhồi máu cơ tim. Những loại thuốc được sử dụng để triều trị suy tim phổ biến là bisoprolol, carvedilol, propranolol và nebivolol.
Thuốc lợi tiểu giúp loại bỏ lượng dịch và natri dư thừa ra khỏi cơ thể qua nước tiểu, giảm quá tải cho tim, giảm phù ở bụng, bàn chân, cẳng chân và hạ huyết áp. Các loại thuốc lợi tiểu điều trị suy tim phổ biến bao gồm chlorothiazide, amiloride, furosemide, bumetanide, indapamide và spironolactone.
Thuốc digoxin giúp tăng cường sức co bóp cho cơ tim, làm chậm nhịp tim và dùng để điều trị suy tim và nhịp tim bất thường (loạn nhịp tim). Digoxin được bán dưới nhiều tên thương hiệu khác nhau, bao gồm cardoxin, digitek, digox và lanoxin. Thuốc chỉ được khuyến nghị sử dụng cho những người mặc dù đã điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển ACE, thuốc chẹn thụ thể ARB, thuốc chẹn beta và thuốc lợi tiểu nhưng vẫn còn triệu chứng.

Nhóm thuốc điều trị đau thắt ngực thuộc thuốc kê đơn có tác dụng ngăn chặn sự kết dính của các tiểu cầu, tăng cường lưu thông máu ở động mạch vành. Nhờ đó, thuốc giúp giảm tần suất của các cơn đau và giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng đau thắt ngực. Một số loại thuốc giúp cải thiện các triệu chứng đau thắt ngực bao gồm:
Nhóm thuốc điều trị tăng áp phổi là thuốc kê đơn được sử dụng để điều trị, làm giảm các triệu chứng, kiểm soát tình trạng bệnh và kéo dài tuổi thọ. Một số loại thuốc điều trị tăng áp phổi bao gồm:
Thuốc giãn mạch có tác dụng làm giãn nở các mạch máu để máu lưu thông dễ dàng hơn, tăng cung cấp oxy cho tim, giảm khối lượng công việc của tim và gián tiếp làm giảm huyết áp. Một số loại thuốc giãn mạch kê đơn để điều trị tăng huyết áp phổi bao gồm epoprostenol, treprostinil , Iloprost và selexipag.
Thuốc tăng lưu lượng máu hay còn gọi là chất ức chế phosphodiesterase 5 (PDE5), được sử dụng để tăng lưu lượng máu qua phổi và điều trị rối loạn cương dương. Hai loại thuốc nhóm này bao gồm sildenafil và tadalafil.

Nhóm thuốc kích thích guanylate cyclase hòa tan (sGC) phổ biến như riociguat (adempas) giúp tăng oxit nitric trong cơ thể, giãn nở động mạch phổi và giảm áp lực trong phổi. Lưu ý, không sử dụng thuốc SGC cho phụ nữ mang thai.
Thuốc đối kháng thụ thể endothelin đảo ngược tác động của một chất trong thành mạch máu gây hẹp mạch máu. Các loại thuốc thuộc nhóm này như bosentan, macitentan và ambrisentan, giúp cải thiện một số triệu chứng bệnh. Tuy nhiên thuốc có thể gây hại cho gan và không sử dụng thuốc này nếu bạn đang mang thai.
Những loại thuốc chẹn kênh canxi liều cao như amlodipine và nifedipine giúp giãn cơ ở thành mạch máu. Mặc dù thuốc chẹn kênh canxi có thể có hiệu quả, nhưng chỉ một số ít người bị tăng áp phổi cải thiện khi uống thuốc.
Thuốc làm chậm quá trình đông máu giúp ngăn ngừa cục máu đông. Tuy nhiên, thuốc có thể tăng nguy cơ chảy máu khi bạn phẫu thuật hoặc thực hiện một thủ thuật xâm nhập vào cơ thể hoặc tạo ra một vết thương hở trên da.
Thuốc giúp tim đập mạnh hơn, kiểm soát nhịp tim không đều và bơm nhiều máu hơn.
Nhóm thuốc này giúp thận loại bỏ dịch dư thừa ra khỏi cơ thể, làm giảm khối lượng công việc của tim phải làm. Thuốc lợi tiểu cũng có thể được sử dụng để giảm tích tụ dịch ở phổi, chân và bụng.
Thuốc hạ lipid máu là nhóm thuốc kê đơn có tác dụng làm giảm mức cholesterol trong máu, giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ. Các loại thuốc hạ lipid máu bao gồm statin (atorvastatin, lovastatin, pitavastatin, fluvastatin), axit nicotinic (niacin), thuốc ức chế hấp thu cholesterol (ezetimibe), kết hợp statin và chất ức chế hấp thu cholesterol (vytorin).
Những người có LDL-cholesterol cao, dù chưa mắc bệnh tim cũng có thể cần uống thuốc statin để phòng nguy cơ tim mạch về lâu dài. Các loại thuốc hạ lipid máu khác ngoài statin thường được bác sĩ chỉ định dùng cho người bệnh không hiệu quả khi uống statin hoặc gặp phải tác dụng phụ nghiêm trọng từ statin. Lưu ý, một số loại thuốc hạ cholesterol có thể tương tác với bưởi, nước ép bưởi, lựu và nước ép lựu.

Bên cạnh các loại thuốc tim mạch ở trên, cũng có một số nhóm thuốc tim mạch khác thường được bác sĩ kê đơn:
Thuốc tim mạch được chỉ định cho những người đang gặp các vấn đề về tim mạch hoặc có nguy cơ cao mắc các bệnh liên quan đến tim. Dưới đây là một số đối tượng thường được chỉ định sử dụng thuốc tim mạch:

Để sử dụng thuốc tim mạch hiệu quả, người bệnh cần phải tuân thủ những điều sau đây:
Dựa trên tình trạng bệnh, tuổi tác, sức khỏe, cân nặng và các yếu tố khác mà bác sĩ sẽ chỉ định liều lượng thuốc tim mạch phù hợp cho từng người bệnh. Để đạt được hiệu quả điều trị tốt nhất, người bệnh cần phải tuân thủ đúng liều lượng và thời gian dùng thuốc. Uống thuốc đúng giờ vào cùng một thời điểm trong ngày, đúng theo hướng dẫn của bác sĩ/dược sĩ và không tự ý thay đổi liều lượng hoặc ngưng thuốc mà chưa có sự đồng ý của bác sĩ.
Nếu bạn quên uống một liều thuốc, hãy uống ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu gần đến giờ uống liều thuốc tim mạch tiếp theo (trong vòng 4 giờ) bạn hãy bỏ qua liều đã quên và uống liều tiếp theo như bình thường. Người bệnh tuyệt đối không được uống gấp đôi liều để bù cho liều đã quên.
Việc dùng quá liều thuốc tim mạch có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng như chóng mặt, huyết áp thấp, khó thở, nhịp tim chậm và thậm chí đe dọa tính mạng. Trường hợp nếu dùng quá liều thuốc, bạn hãy gọi ngay cho trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được bác sĩ thăm khám, cấp cứu. Ngoài ra, khi đi bạn cũng nên mang theo toa thuốc đang sử dụng và không nên tự ý gây nôn hoặc sử dụng bất kỳ biện pháp nào khác trừ khi có chỉ định của bác sĩ.
Mỗi loại thuốc điều trị bệnh tim mạch sẽ gây ra một số tác dụng phụ khác nhau, cụ thể như sau:
Nếu gặp phải bất kỳ tác dụng phụ nào từ một trong những loại thuốc tim mạch ở trên, người bệnh cần phải ngay lập tức thông báo cho bác sĩ điều trị để được thay đổi liều dùng hoặc chuyển sang loại thuốc khác.

Ngoài dùng thuốc điều trị, một số biện pháp hỗ trợ giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch sau đây thường được khuyến nghị cho người bệnh tim mạch:

Sau đây là một số câu hỏi thường gặp về thuốc tim mạch:
Uống thuốc tim mạch quá liều sẽ làm hạ huyết áp, suy hô hấp, hôn mê, co giật, nhịp tim chậm, tăng kali máu và hạ đường huyết, suy tim sung huyết,… Mỗi loại thuốc tim mạch sẽ có những tác dụng phụ khi quá liều khác nhau, nhưng nhìn chung, uống quá liều thuốc bệnh tim có thể dẫn đến tụt huyết áp đột ngột, loạn nhịp tim, suy tim, và thậm chí tử vong.
Do đó, người bệnh cần phải tuân thủ đúng liều lượng và chỉ định của bác sĩ. Trường hợp uống quá liều hãy lập tức liên hệ ngay với bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời. [2]
Bệnh tim mạch đa số là những căn bệnh mãn tính và cần phải uống thuốc tim mạch suốt đời để kiểm soát bệnh và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp người bệnh có thể giảm liều hoặc ngừng thuốc sau một thời gian điều trị khi tình trạng sức khỏe đã ổn định.
Tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của người bệnh mà bác sĩ điều trị sẽ quyết định có nên tiếp tục uống thuốc hay không. Do vậy, người bệnh không được tự ý ngưng thuốc nếu không sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng như tăng huyết áp đột ngột, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Người bệnh không được tự ý đổi thuốc hoặc ngưng thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ. Việc tự ý đổi thuốc có thể làm giảm hiệu quả điều trị, tăng nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim và gây ra các biến chứng nguy hiểm khác. Trường hợp nếu người bệnh muốn thay đổi thuốc thì cần phải tham khảo ý kiến của bác sĩ. Bác sĩ sẽ căn cứ vào tình trạng sức khỏe hiện tại, các loại thuốc đang sử dụng và các yếu tố khác để đưa ra quyết định thay đổi thuốc phù hợp nhất.
Thuốc tim mạch là các nhóm thuốc được bác sĩ kê đơn để hỗ trợ điều trị các bệnh lý về tim mạch, kiểm soát các triệu chứng bệnh và ngăn ngừa bệnh tiến triển. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả tốt nhất, người bệnh cần phải uống thuốc đúng liều, kết hợp uống thuốc với việc thay đổi lối sống lành mạnh và tuân thủ đúng phác đồ điều trị của bác sĩ để bảo vệ sức khỏe tim mạch tốt nhất.