Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất trên thế giới. Không chỉ ảnh hưởng đến tâm trạng, cảm xúc, bệnh còn gây ra những thay đổi đáng kể về cấu trúc và chức năng não bộ. Trầm cảm ảnh hưởng đến não như thế nào, tác động ra sao? Cùng ECO Pharma tìm hiểu các ảnh hưởng dài hạn của trầm cảm đối với não bộ ngay sau đây.

Bệnh trầm cảm có thể xảy ra ở bất kỳ ai. Nhưng những người từng bị bạo hành, mất mát nghiêm trọng, sốc hoặc căng thẳng trong thời gian dài có nguy cơ mắc trầm cảm cao hơn. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính có khoảng 3.8% dân số bị trầm cảm, 5% là người lớn (gồm 4% nam giới và 6% nữ giới) và 5.7% người lớn trên 60 tuổi. Trong số 280 triệu người trên thế giới bị trầm cảm thì có 10% là phụ nữ mang thai và phụ nữ vừa sinh con. Phụ nữ có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn nam giới khoảng 50%. (1)
Trầm cảm là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong do tự tử hàng năm ở hơn 700.000 người và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ tư ở thanh thiếu niên từ 15 đến 29 tuổi.
Trầm cảm ảnh hưởng đến não như thế nào? Trầm cảm có mối tương quan với những thay đổi về cấu trúc não bộ, bao gồm suy giảm thể tích chất xám, rối loạn dẫn truyền thần kinh và viêm. Những người bị trầm cảm cũng có thể gặp vấn đề về trí nhớ (2). Cụ thể:
Theo một nghiên cứu năm 2018, não người trầm cảm có nguy cơ bị giảm thể tích chất xám (3). Chất xám tạo thành lớp vỏ ngoài của não bộ. Trầm cảm ảnh hưởng đến não bộ như sau:
Vùng hải mã được xem như dải mô chất xám, nằm trên sừng thái dương của não thất bên, đóng vai trò quan trọng đối với quá trình hình thành và củng cố trí nhớ. Vùng hải mã kết nối với các vùng não khác điều khiển cảm xúc và nó nhạy cảm với hormone căng thẳng nên dễ bị tổn thương bởi trầm cảm. (4)
Teo vùng hải mã liên tục được báo cáo ở người bệnh trầm cảm, với mức độ teo từ 8% đến 19%. Sự suy giảm thể tích của vùng hải mã có thể giải thích lý do vì sao người bệnh thường gặp khó khăn trong việc tập trung, ghi nhớ và học hỏi.
Vỏ não trước trán là vùng não chịu trách nhiệm cho quá trình suy nghĩ, đưa ra quyết định, lập kế hoạch và kiểm soát hành vi. Hoạt động của vỏ não trước trán giảm sút ở người bệnh trầm cảm khiến họ gặp khó khăn trong việc tập trung, giải quyết vấn đề và kiểm soát suy nghĩ tiêu cực. Bên cạnh đó, cũng có bằng chứng cho thấy trầm cảm gây teo não phần đồi thị, nhân đuôi và thùy đảo.
Hạch hạnh nhân là cụm tế bào hình quả hạnh nằm sâu trong thùy thái dương, tiếp giáp với đồi thị và sừng dưới (thái dương), trung gian với vùng dưới đồi. Hạch hạnh nhân có mối tương quan chặt chẽ với trạng thái cảm xúc thường ngày như khó chịu, chán ghét, sợ hãi, lo âu, hung hăng và tức giận.
Các nghiên cứu về tác động của trầm cảm lên hạnh hạnh nhân cho thấy kết quả không thống nhất. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng hạch hạnh nhân não có thể bị teo nhỏ, trong khi các nghiên cứu khác lại cho thấy căng thẳng và trầm cảm có thể làm tăng thể tích chất xám (GMV) của vùng này. Thậm chí, mức độ trầm cảm càng nặng thì GMV càng cao
Khi các vùng não này hoạt động không bình thường, người bệnh có thể gặp phải các vấn đề rối loạn trí nhớ, khó khăn trong tư duy, cảm giác tội lỗi hoặc tuyệt vọng, thiếu động lực, rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống và lo âu. Người bệnh cũng có thể gặp phải các triệu chứng như di chuyển chậm, nói chậm hoặc phản ứng thái quá với cảm xúc tiêu cực.

Trầm cảm có liên quan mật thiết đến sự mất cân bằng của các chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ. Các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin, dopamine và norepinephrine đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa tâm trạng, cảm xúc và động lực.
Ở những người bị trầm cảm, quá trình sản xuất, tái hấp thu hoặc tiếp nhận của các chất dẫn truyền thần kinh này thường bị rối loạn. Trầm cảm có thể xảy ra khi có quá ít norepinephrine trong một số mạch não nhất định. Sự thiếu hụt serotonin có thể dẫn đến cảm giác buồn bã, mất hứng thú và giảm khả năng cảm nhận niềm vui. Còn mức dopamine giảm liên quan đến việc giảm động lực và sự tập trung.
Não của người bị trầm cảm sẽ bị giảm khả năng tái sinh tế bào thần kinh, đặc biệt ở vùng hải mã – vùng não liên quan đến quá trình học tập và ghi nhớ. Quá trình tái sinh tế bào thần kinh (neurogenesis) là cơ chế giúp não bộ tạo ra các tế bào thần kinh mới, phục hồi sau tổn thương và duy trì chức năng nhận thức.
Tuy nhiên, quá trình tái sinh tế bào bên trong não của người trầm cảm sẽ bị ức chế, dẫn đến giảm mật độ tế bào thần kinh ở vùng hải mã và gây ra các rối loạn về tâm trạng, nhận thức.
Trầm cảm ảnh hưởng đến não bộ như thế nào? Bài đánh giá nghiên cứu năm 2021 đã khảo sát các nghiên cứu thần kinh học hiện tại về chứng rối loạn trầm cảm. Các nhà nghiên cứu nhận thấy sự khác biệt về thể tích và hoạt động não bộ ở người bị trầm cảm. Những thay đổi về cấu trúc não bộ, thay đổi kích thước não và tình trạng viêm đã được ghi nhận trong các nghiên cứu khác.
Một nghiên cứu nhỏ năm 2018 cho thấy kích thước của các vùng não cụ thể có thể giảm ở những người trải qua trầm cảm. Các nhà nghiên cứu vẫn đang tranh luận về các vùng não có thể bị teo do trầm cảm và mức độ teo.
Một số nghiên cứu cho thấy các bộ phận não có thể bị ảnh hưởng gồm vùng hải mã (hỗ trợ trí nhớ, học tập, định hướng và nhận thức không gian); vùng đồi thị (thalamus – truyền thông tin từ vỏ não đến thân não); hạch hạnh nhân (điều chỉnh cảm xúc và trí nhớ); vỏ não trước trán (prefrontal cortices – kiểm soát các chức năng nhận thức, quản lý sự chú ý, kiểm soát xung động và phản ứng cảm xúc).
Mức độ teo của các vùng này có liên quan đến mức độ nghiêm trọng và thời gian của giai đoạn trầm cảm. Tuy nhiên, cần nhiều nghiên cứu hơn để hỗ trợ những phát hiện này. Khi một phần của não bộ bị teo, khả năng thực hiện các chức năng liên quan đến phần não đó sẽ bị giảm sút.
Nghiên cứu về cơ chế thần kinh sinh học của chứng mất khoái cảm năm 2008 cho thấy, rối loạn chức năng giữa hạch hạnh nhân và vỏ não trước trán có thể gây ra nhiều triệu chứng ở hầu hết những người mắc trầm cảm. Chẳng hạn như mất hứng thú với các hoạt động từng yêu thích, rối loạn trong cách cảm nhận cảm xúc, mất khả năng điều chỉnh cảm xúc.

Trầm cảm nếu không được điều trị kịp thời có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh thần kinh như đột quỵ, động kinh, đau nửa đầu, bệnh Alzheimer, đa xơ cứng và bệnh Parkinson. Tỷ lệ mắc trung bình từ 25% đến 40%. Mối quan hệ giữa trầm cảm và một số rối loạn thần kinh này là hai chiều.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những thay đổi cấu trúc và chức năng của não bộ có liên quan đến trầm cảm. Đặc biệt, sự teo nhỏ của vùng hải mã và giảm kết nối thần kinh có thể làm gia tăng quá trình thoái hóa thần kinh. Hơn nữa, tình trạng viêm do căng thẳng mãn tính làm gián đoạn các đường dẫn truyền thần kinh cũng gây hại cho não, tăng khả năng gây ra trầm cảm.
Bệnh trầm cảm dẫn đến những rối loạn đáng kể trong hệ thần kinh tự chủ, ảnh hưởng đến chức năng tự động của các cơ quan bên trong cơ thể như nhịp tim, huyết áp, tiêu hóa và hô hấp.
Mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin, norepinephrine và dopamine có thể dẫn đến tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, gây ra các triệu chứng như tim đập nhanh, tăng huyết áp, đổ mồ hôi, khó thở, rối loạn tiêu hóa, rối loạn giấc ngủ và mệt mỏi mãn tính.
Để giảm tác động của trầm cảm đối với não bộ, người bệnh có thể tham khảo 4 cách sau đây:
Xây dựng chế độ ăn uống đầy đủ các nhóm chất dinh dưỡng cần thiết, giàu rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt, trái cây để bảo vệ tế bào thần kinh, giảm nguy cơ mắc bệnh trầm cảm. Bên cạnh đó, luyện tập thể dục đều đặn ít nhất 30 phút mỗi ngày, ngủ đủ giấc và hạn chế tiêu thụ caffeine, chất kích thích giúp tăng cường sự sản sinh các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin và dopamine, điều hòa tâm trạng.
Thuốc chống trầm cảm, thuốc an thần, thuốc chống loạn thần tác động lên các chất hóa học trong não giúp kiểm soát căng thẳng, cải thiện tâm trạng và cảm xúc, giảm triệu chứng của bệnh trầm cảm. Có bằng chứng cho thấy những loại thuốc này có thể giúp não hình thành các kết nối mới và giảm viêm.
Các liệu pháp tâm lý chẳng hạn như liệu pháp hành vi nhận thức (CBT) là phương pháp điều trị trầm cảm hiệu quả. CBT giúp người mắc bệnh trầm cảm học được cách kiểm soát cảm xúc, thay đổi suy nghĩ tiêu cực đang ảnh hưởng đến hành vi của mình và học hỏi những cách suy nghĩ mới.
Thiền định, yoga, đi bộ, đọc sách, ngâm chân, bấm huyệt, thái cực quyền và hít thở sâu có thể giúp giảm căng thẳng, lo âu và cải thiện tâm trạng. Những kỹ thuật này giúp kích hoạt hệ thần kinh phó giao cảm, làm giảm sản xuất hormone căng thẳng cortisol, tăng cường sự sản sinh các hormone endorphin có tác dụng giảm đau và cải thiện tâm trạng.

Bên cạnh câu hỏi trầm cảm ảnh hưởng đến não thế nào thì sau đây là một số thắc mắc thường gặp được nhiều người bệnh quan tâm:
Trầm cảm kéo dài có khả năng gây ra những thay đổi lâu dài cho não bộ, làm tổn thương não, đặc biệt là ở vùng hải mã. Đó có thể là lý do tại sao trầm cảm rất khó điều trị ở một số người.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện rằng khối lượng chất xám ít hơn ở những người được chẩn đoán mắc rối loạn trầm cảm nặng suốt đời nhưng đã không bị trầm cảm trong nhiều năm. Mặc dù cần nhiều nghiên cứu hơn nữa, nhưng các phương pháp điều trị hiện tại hoặc mới có triển vọng giúp đảo ngược hoặc ngăn ngừa một số thay đổi ở não.
Não bộ có thể phục hồi hoàn toàn sau trầm cảm nếu được điều trị sớm và đúng cách. Các phương pháp điều trị như thuốc chống trầm cảm và liệu pháp hành vi nhận thức có thể giúp giảm viêm do trầm cảm gây ra. Chúng cũng có thể giúp não bộ hình thành các kết nối synap mới đã bị tổn thương trong thời gian trầm cảm.
Nhưng không phải người bệnh nào cũng có thể phục hồi hoàn toàn, khoảng 20% đến 30% số người bị trầm cảm có các triệu chứng không hoàn toàn biến mất. Một số người có thể vẫn còn lại một số triệu chứng nhẹ hoặc gặp phải các đợt tái phát. Thời gian phục hồi cũng khác nhau giữa các cá nhân, có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng hoặc thậm chí lâu hơn.
Các nghiên cứu cho thấy rằng trầm cảm hoặc căng thẳng kéo dài dẫn đến mức cortisol tăng cao, loại hormone “căng thẳng” do tuyến thượng thận sản xuất. Điều này làm co lại hoặc teo vùng hải mã – phần não có hình con ngựa biển liên quan đến khả năng hình thành và củng cố trí nhớ. Ngoài ra, các triệu chứng khác đi kèm với trầm cảm như rối loạn giấc ngủ, mất tập trung cũng góp phần làm suy giảm khả năng ghi nhớ.
Trầm cảm ảnh hưởng đến não, làm thay đổi cấu trúc và chức năng của nhiều vùng não liên quan đến cảm xúc, nhận thức. Những thay đổi trong não bộ của người bị trầm cảm gây rối loạn giấc ngủ, cảm thấy chán nản, buồn bã, giảm khả năng tập trung, ghi nhớ, chán ăn và suy nghĩ tiêu cực về bản thân. Thậm chí, trầm cảm nặng có thể dẫn đến tự tử, do đó bạn hãy tìm kiếm sự giúp đỡ ngay nếu đang nghĩ đến việc tự làm hại mình. Điều trị trầm cảm kịp thời không chỉ giúp cải thiện tâm trạng mà còn bảo vệ sức khỏe não bộ lâu dài.