Năm 2014 Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu Sức khỏe Tình dục Phụ nữ và Hiệp hội Mãn kinh Bắc Mỹ (NAMS) đã đề xuất đưa ra thuật ngữ hội chứng tiết niệu sinh dục ở thời kỳ mãn kinh (GSM) để thay thế thuật ngữ teo âm hộ – âm đạo (VVA) đã được sử dụng từ lâu để mô tả những thay đổi về tiết niệu sinh dục trong thời kỳ mãn kinh. (1) Cùng ECO Pharma tìm hiểu về hội chứng này trong bài viết dưới đây.

Hội chứng tiết niệu sinh dục ở thời kỳ mãn kinh (GSM) là thuật ngữ dùng để chỉ tập hợp các dấu hiệu phát sinh do giảm kích thích estrogen ở âm hộ, âm đạo và đường tiết niệu dưới. Bao gồm các triệu chứng ở bộ phận sinh dục (khô, nóng rát, kích ứng); các triệu chứng tình dục (thiếu chất bôi trơn, khó chịu hoặc đau, suy giảm chức năng); các triệu chứng tiết niệu (tiểu gấp, tiểu khó; nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát). Khoảng 27 – 84% phụ nữ sau mãn kinh bị ảnh hưởng bởi các triệu chứng của GSM và điều này chắc chắn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, chức năng tình dục do đó ảnh hưởng đến chất lượng sống.
Một cuộc khảo sát năm 2013 ở hơn 3000 phụ nữ tại Mỹ có các triệu chứng âm hộ – âm đạo thời kỳ mãn kinh cho thấy 85% những người có bạn đời cảm thấy mất đi sự thân mật ở một mức độ nào đó; 59% bị giảm hứng thú khi quan hệ tình dục; 47% cảm thấy mối quan hệ bị cản trở; 29% bị ảnh hưởng xấu đến giấc ngủ; 27% không hài lòng về cuộc sống. (2)
Mặc dù rất phổ biến nhưng hiện nay GSM vẫn cực kỳ ít được chẩn đoán chủ yếu do nữ giới không chủ động đi thăm khám vì xấu hổ, hoặc do cho rằng các triệu chứng đó là bình thường khi già đi.
Mặc dù tình trạng này chủ yếu ảnh hưởng đến phụ nữ sau mãn kinh nhưng cũng xuất hiện ở nhiều phụ nữ trước mãn kinh. Hầu hết các triệu chứng của GSM đều do thiếu hụt estrogen.
Ngoài ra các yếu tố nguy cơ chính có liên quan đến GSM là việc không sinh con qua đường âm đạo, lạm dụng rượu, cắt bỏ buồng trứng hai bên, giảm tần suất hoặc kiêng quan hệ tình dục, hút thuốc lá, thiếu vận động, suy buồng trứng (sớm), điều trị ung thư bằng xạ trị vùng chậu, hóa trị và các tác nhân nội tiết. Tương tự trình độ học vấn thấp và các bệnh mãn tính, chủ yếu là các bệnh lý tiết niệu phụ khoa cũng có liên quan đến GSM; trong khi chỉ số BMI không tương quan với sự khởi phát của GSM.

Hội chứng tiết niệu sinh dục ở thời kỳ mãn kinh là một tình trạng mạn tính. Sự thiếu hụt estrogen ảnh hưởng đến mọi hệ cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là hệ tiết niệu sinh dục, nơi có rất nhiều thụ thể estrogen. (3)
Triệu chứng âm đạo:
Triệu chứng tình dục:
Triệu chứng tiết niệu:
Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, GSM có thể ảnh hưởng đến các hoạt động cơ bản như ngồi, đi bộ và làm việc không chỉ riêng tình dục và kiểm soát bàng quang.
Tần suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng nêu trên thay đổi tùy thuộc vào thời gian kể từ khi mãn kinh. Hầu hết chúng xuất hiện thường xuyên và dữ dội hơn 5 năm sau mãn kinh so với thời kỳ gần tiền mãn kinh hoặc so với thời kỳ vừa mãn kinh xong. Trái ngược với các triệu chứng vận mạch liên quan đến mãn kinh có xu hướng nhẹ hơn theo thời gian, các triệu chứng của GSM dường như có tác động lớn hơn đến chất lượng sống của những phụ nữ bị ảnh hưởng do hiếm khi tự khỏi. Trong hầu hết các trường hợp sẽ trở nên nghiêm trọng hơn nếu không được điều trị và ảnh hưởng tiêu cực đến sự tự tin, sự thân mật với bạn đời cũng như chất lượng sống nói chung, đặc biệt ở những phụ nữ có hoạt động tình dục.
Việc chẩn đoán GSM có thể gặp khó khăn vì các biểu hiện lâm sàng thường nhẹ và không đặc hiệu ở khoảng 50% phụ nữ sau mãn kinh. Các bác sĩ luôn phải loại trừ các nguyên nhân khác có triệu chứng tương tự, đặc biệt là các bệnh lý da liễu ở âm hộ như xơ cứng lichen hoặc lichen phẳng, chàm, viêm da, viêm âm hộ âm đạo mãn tính, viêm âm đạo và nhiễm trùng âm đạo, đau âm hộ, các khối u ác tính và đau vùng chậu mãn tính. (4)
Việc chẩn đoán hội chứng tiết niệu sinh dục ở thời kỳ mãn kinh bao gồm:

Mục tiêu chính của điều trị GSM là giảm triệu chứng. Các phương pháp là liệu pháp hormone tại chỗ và toàn thân, kết hợp thay đổi lối sống và các phương pháp điều trị không dùng hormone.
Phương pháp estrogen đặt trong âm đạo (viên nén, vòng, kem) với nồng độ estradiol thấp (≤50 mcg estradiol hoặc 50 mcg estriol) đã cho thấy kết quả tốt trong điều trị các triệu chứng GSM như khô, ngứa, niêm mạc âm đạo dễ bị tổn thương và đau khi giao hợp. Một loại thuốc khác được sử dụng để điều trị các triệu chứng GSM là dehydroepiandrosterone (DHEA) đặt trong âm đạo. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng DHEA làm tăng nồng độ estrogen trong máu do đó giúp cải thiện sự hưng phấn tình dục và khôi phục ham muốn tình dục đã mất.
Ngoài ra testosterone đặt trong âm đạo đã cho thấy tác dụng tích cực trong việc làm giảm các triệu chứng teo âm đạo và giảm ham muốn tình dục nhưng hiệu quả của nó đối với GSM nói chung vẫn chưa chắc chắn.
Nếu khô âm đạo đi kèm với các triệu chứng khác của mãn kinh, chẳng hạn như bốc hỏa từ nhẹ đến nặng bác sĩ có thể chỉ định dùng thuốc viên, miếng dán hoặc gel estrogen hoặc vòng đặt âm đạo có liều estrogen cao hơn. Estrogen uống sẽ đi vào toàn bộ cơ thể. Người bệnh nên hỏi rõ bác sĩ về những rủi ro và lợi ích của estrogen đường uống; và liệu có cần dùng thêm một loại hormone khác như progestin cùng với estrogen hay không.
Trong các trường hợp có tiền sử khối u nhạy cảm với estrogen, chẳng hạn như ung thư vú hoặc ung thư nội mạc tử cung, bất kỳ liệu pháp hormone nào cũng nên được sử dụng thận trọng. Tỷ lệ rủi ro/lợi ích cần được cá nhân hóa và phối hợp với bác sĩ điều trị ung thư. Rủi ro của liệu pháp hormone cần được đánh giá kỹ lưỡng và các yếu tố như tuổi tác, thời gian sử dụng, liều lượng, loại điều trị, đường dùng, loại mô học của khối u ác tính,….

Sử dụng chất bôi trơn, kem dưỡng ẩm âm đạo và một số liệu pháp can thiệp khác giúp giảm các triệu chứng GSM.
Chất bôi trơn và dưỡng ẩm âm đạo
Phương pháp điều trị hàng đầu cho GSM là sử dụng chất bôi trơn và dưỡng ẩm âm đạo không chứa hormone. Chất bôi trơn là các sản phẩm gốc nước, silicon hoặc dầu không được hấp thụ qua da. Chúng hoạt động ngay lập tức và mang lại sự giảm nhẹ tạm thời tình trạng khô âm đạo và đau khi quan hệ tình dục. Vì vậy những sản phẩm này thực sự hữu ích cho những phụ nữ bị khô âm đạo, chủ yếu là trong khi giao hợp.
Mặt khác kem dưỡng ẩm âm đạo được sử dụng thường xuyên. Chúng là chất kết dính sinh học và có thể cải thiện sự thoải mái khi giao hợp và tăng độ ẩm cho âm đạo. Kem dưỡng ẩm bắt chước dịch tiết âm đạo và làm giảm độ pH bằng cách thay đổi hàm lượng chất lỏng trong biểu mô âm đạo. Tuy nhiên cả hai sản phẩm này chủ yếu phù hợp với phụ nữ có triệu chứng nhẹ đến trung bình và nhiều trường hợp cuối cùng sẽ cần thêm thuốc nội tiết tố.
Các liệu pháp khác
Bên cạnh việc điều trị theo chỉ định, phụ nữ cũng cần thay đổi lối sống khoa học và tự chăm sóc tại nhà để giúp hỗ trợ điều trị hội chứng GSM hiệu quả hơn. Cụ thể nên chăm sóc tổng quát vùng âm hộ và âm đạo như sau:

Hội chứng tiết niệu sinh dục ở thời kỳ mãn kinh khó có thể phòng tránh hoàn toàn, tuy nhiên bạn có thể áp dụng một số biện pháp như xây dựng chế độ ăn uống cân bằng với nhiều trái cây, rau củ, ngũ cốc nguyên hạt và protein nạc. Đây là những thực phẩm giúp hỗ trợ sức khỏe nội tiết. Các vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin D và canxi cũng rất quan trọng cho sức khỏe xương và hormone. Thực phẩm chứa vitamin D và canxi nên bổ sung là các loại cá béo, trứng gà, cải bó xôi, các loại đậu.
Bên cạnh đó phụ nữ cần duy trì tập luyện thể dục thường xuyên giúp cải thiện sức khỏe, duy trì cân nặng hợp lý, cải thiện tâm trạng và tăng cường lưu thông máu hiệu quả. Đặc biệt các bài tập trị liệu sàn chậu rất hữu ích cho những người có triệu chứng liên quan đến tiểu tiện và chức năng tình dục vì giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp ở vùng sàn chậu; Ngoài ra cần ngủ đủ giấc, giảm stress, tránh các chất kích thích, uống đủ nước, khám sức khỏe định kỳ; Và bổ sung tinh chất hỗ trợ sinh lý nữ là Lepidium Meyenii để giúp điều hòa nội tiết, thúc đẩy cơ thể sản sinh bộ ba hormone quan trọng là estrogen, progesterone và testosterone. Lepidium Meyenii đã được chứng minh hỗ trợ giảm bớt các triệu chứng khó chịu trong thời kỳ mãn kinh và nâng cao sức khỏe cho phụ nữ; tốt nhất nên bắt đầu bổ sung từ tuổi 30.
Tóm lại hội chứng tiết niệu sinh dục ở thời kỳ mãn kinh là kết quả của tình trạng thiếu hụt estrogen cùng những biến đổi khác trong thời kỳ mãn kinh. Việc gia tăng tuổi thọ trong những năm gần đây đã kéo theo thời gian sau mãn kinh chiếm trung bình 1/3 cuộc đời phụ nữ. Điều này có nghĩa là phụ nữ sẽ phải chịu đựng các triệu chứng và bệnh lý liên quan đến thiếu hụt estrogen trong thời gian dài hơn. Vì lý do đó mà cần trang bị tốt kiến thức về hội chứng tiết niệu sinh dục ở thời kỳ mãn kinh và các bệnh lý liên quan để chủ động thăm khám và điều trị hiệu quả.