Bệnh cơ tim là nhóm bệnh lý tim mạch phổ biến nhưng thường bị bỏ sót, bệnh làm suy yếu cơ tim và giảm hiệu suất bơm máu. Tình trạng này đe dọa trực tiếp đến chất lượng sống và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bài viết dưới đây của ECO Pharma sẽ giúp bạn hiểu rõ nguyên nhân, triệu chứng và các hướng điều trị tối ưu để phòng ngừa biến chứng nguy hiểm.

Bệnh cơ tim là tập hợp những rối loạn khiến cơ tim bị biến đổi về cấu trúc hoặc độ đàn hồi. Cơ tim có thể dày lên, mỏng đi, cứng lại hoặc tích tụ chất lạ do rối loạn chuyển hóa. Sự thay đổi này làm giảm hiệu suất bơm máu, gây ứ huyết tại phổi hoặc các cơ quan khác dẫn đến rối loạn nhịp tim và suy tim. Bệnh có thể mắc phải (do bệnh lý toàn thân, nhiễm trùng, độc chất, rối loạn nội tiết, lối sống…) hoặc di truyền. Theo thống kê khoảng 1/500 người trưởng thành mắc bệnh cơ tim, trong đó nam giới và người da đen có tỷ lệ cao hơn những đối tượng khác. Một số thể bệnh, điển hình như cơ tim phì đại là dạng di truyền phổ biến nhất, có thể gây đột tử. (1)
Nguy cơ mắc bệnh gia tăng ở nhóm có bệnh nền như huyết áp cao, bệnh động mạch vành, tiểu đường, rối loạn tuyến giáp, thừa sắt, nhiễm trùng tim hoặc người từng điều trị ung thư bằng hóa trị – xạ trị. Yếu tố gia đình, thói quen uống rượu, dùng chất kích thích và tình trạng thừa cân cũng góp phần thúc đẩy bệnh tiến triển.
Bệnh có thể xuất hiện từ những nguyên nhân sau:
Nhiều thể bệnh cơ tim, đặc biệt là cơ tim phì đại, cơ tim giãn và rối loạn nhịp tim có nền tảng di truyền rõ ràng. Hiện đã xác định hơn 50 gen (như MYH7, MYBPC3, TTN, LMNA…) khi bị đột biến có thể làm sai lệch cấu trúc sarcomere ảnh hưởng đến liên kết giữa các tế bào cơ tim hoặc làm rối loạn bộ khung nâng đỡ của tế bào. Hậu quả là cơ tim dễ giãn, loạn nhịp và dày lên bất thường. Ở những gia đình có người mắc bệnh, bác sĩ thường khuyến nghị xét nghiệm, sàng lọc di truyền cho thân nhân bậc một để phát hiện sớm người mang gen bệnh từ đó có kế hoạch theo dõi tim mạch định kỳ.
Nhiễm trùng và viêm cơ tim là một trong những nguyên nhân quan trọng gây bệnh cơ tim, đặc biệt là cơ tim giãn. Khi virus, vi khuẩn, ký sinh trùng tấn công tim, chúng có thể gây tổn thương trực tiếp tế bào cơ tim hoặc kích hoạt phản ứng viêm trong mô cơ tim. Một khi viêm kéo dài sẽ khiến cơ tim yếu dần, giảm khả năng co bóp và để lại mô sẹo khó phục hồi. Ước tính có khoảng ⅕ trường hợp viêm cơ tim cấp diễn tiến thành cơ tim giãn mãn tính.
Virus là tác nhân thường gặp nhất, gồm các nhóm enterovirus, adenovirus, parvovirus B19, virus Herpes, virus cúm… Một số virus phá hủy tế bào cơ tim, số khác lại làm tổn thương lớp nội mô mạch máu nuôi tim. Bên cạnh đó bệnh do vi khuẩn, ký sinh trùng (như bệnh Chagas) cũng dễ gây viêm cơ tim để lại di chứng nặng nếu không được điều trị kịp thời. (2)
Tăng huyết áp kéo dài buộc tim phải làm việc cực lực hơn để tống máu, nhất là thất trái. Ban đầu cơ tim dày lên để “thích nghi” nhưng về lâu dài thành tim cứng dần, giảm đàn hồi, hình thành bệnh do tăng huyết áp.
Huyết áp cao kéo dài gây nhiều hậu quả:
Các bệnh lý chuyển hóa và nội tiết như tiểu đường, rối loạn chức năng tuyến giáp – tuyến thượng thận, rối loạn hormone tăng trưởng, hội chứng Cushing, u tủy thượng thận có thể tác động trực tiếp đến cơ tim.
Khi hormone mất cân bằng, tim bị ảnh hưởng ở nhiều mức độ:
Cường giáp làm tim đập nhanh kéo dài khiến buồng tim quá tải có thể gây giãn tim. Ngược lại suy giáp làm giảm co bóp gây rối loạn chức năng tâm trương. Ngoài ra hormone tăng trưởng tăng cao bất thường và yếu tố tăng trưởng giống insulin (GH/IGF-1) có thể gây thay đổi cấu trúc cơ tim và làm giảm chức năng bơm máu của tâm thất trái. Nếu các bệnh lý nội tiết không được kiểm soát ổn định, tổn thương sẽ diễn tiến, làm tăng nguy cơ giãn hoặc phì đại cơ tim.
Ở một số trường hợp, hệ miễn dịch mất khả năng phân biệt tế bào của cơ thể với tác nhân lạ từ đó sinh ra các kháng thể tấn công nhầm vào tế bào cơ tim. Phản ứng tự miễn này gây viêm kéo dài, làm tổn thương và hoại tử tế bào cơ tim đồng thời tác động đến hệ thống dẫn truyền điện tim khiến người bệnh dễ xuất hiện loạn nhịp. Khi viêm tiến triển, cơ tim dần xơ hóa và tái cấu trúc thất trái bất lợi, lâu ngày làm giảm chức năng bơm máu.
Tình trạng rối loạn miễn dịch này thường liên quan đến cơ tim giãn. Nhiều người bệnh được phát hiện có kháng thể chống thụ thể β1-adrenergic, làm cơ tim suy yếu dần và diễn tiến thành suy tim. Nếu không kiểm soát kịp thời những rối loạn miễn dịch này sẽ tạo thành vòng xoắn bệnh lý gồm viêm – tổn thương – xơ hóa, khiến chức năng tâm thất suy giảm ngày càng rõ rệt, làm bệnh diễn tiến nặng hơn.
Bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ hình thành khi cơ tim bị thiếu máu nuôi kéo dài, thường do bệnh động mạch vành hoặc từng bị nhồi máu cơ tim. Vùng cơ tim thiếu máu sẽ hoại tử để lại sẹo xơ vĩnh viễn và mất khả năng co bóp. Khi thất trái bị giãn và suy yếu, tim không còn khả năng bơm đủ máu cho cơ thể. Đây là dạng giãn cơ tim do thiếu máu cục bộ, chiếm khoảng 60% các trường hợp cơ tim giãn và là nguyên nhân hàng đầu gây suy tâm thu trên toàn cầu.
Đây là nhóm nguyên nhân cần đặc biệt lưu ý trong bệnh cơ tim. Lạm dụng rượu trong thời gian dài, ethanol và các chất chuyển hóa như acetaldehyde sẽ gây độc trực tiếp lên tế bào cơ tim, làm tăng stress oxy hóa, rối loạn chức năng ty thể, thúc đẩy xơ hóa và giảm sức co bóp của tim.
Nhiều nghiên cứu ghi nhận, uống trên khoảng 100ml cồn mỗi ngày trong ít nhất 5 năm có thể gây giãn buồng tim và giảm phân suất tống máu, ngay cả ở người không có bệnh tim nền. Một số nhóm, đặc biệt là người châu Á thiếu men ALDH2 rất nhạy cảm với rượu do acetaldehyde tích tụ nhiều hơn. Ngoài rượu các chất kích thích, kim loại nặng hoặc hóa chất công nghiệp cũng có thể gây viêm cơ tim, loạn nhịp và tổn thương cấu trúc cơ tim.
Ở mỗi người bệnh, một hay nhiều yếu tố kể trên có thể xuất hiện đồng thời và tương tác lẫn nhau. Khi khuynh hướng di truyền kết hợp với tình trạng viêm nhiễm, quá tải áp lực, rối loạn chuyển hóa, thiếu máu cục bộ hoặc độc tính, cấu trúc và chức năng cơ tim sẽ yếu dần, cuối cùng dẫn đến bệnh.
Không phải ai mắc bệnh cũng xuất hiện triệu chứng ngay. Nhiều người chỉ phát hiện bệnh khi cơ tim đã suy yếu nặng. Khi bệnh diễn tiến, người bệnh thường có những biểu hiện sau: (3)

Bệnh gồm nhiều thể khác nhau, mỗi loại có đặc điểm riêng: (4)
Bệnh cơ tim giãn là dạng thường gặp nhất. Đặc trưng của thể này là buồng tim, nhất là thất trái bị giãn và thành cơ tim mỏng đi khiến sức co bóp suy yếu. Khi thất trái giãn lớn, thể tích buồng tim tăng nhưng lực tống máu giảm sẽ khiến máu không bơm đi hiệu quả đến các cơ quan. Về sau tổn thương dần lan sang thất phải và tâm nhĩ làm tình trạng suy tim nặng hơn.
Bệnh hay gặp ở nam giới trung niên. Nguyên nhân có thể liên quan đến thiếu máu cơ tim, viêm cơ tim do virus, lạm dụng rượu, dùng thuốc chống trầm cảm hoặc mắc bệnh lý mô liên kết như viêm khớp dạng thấp.
Bệnh xảy ra khi thành cơ tim, đặc biệt là thành tâm thất dày lên bất thường khiến tim khó bơm máu ra ngoài. Ở thể cơ tim phì đại tắc nghẽn, tâm thất vẫn giữ kích thước gần như bình thường nhưng thành cơ tim hoặc vách ngăn dày lên bất thường, tạo sự chèn ép và làm hẹp đường thoát máu từ thất trái. Thể bệnh này dễ gây rối loạn nhịp tim dẫn tới đột tử khi gắng sức ở một số ít người bệnh. Bệnh thường mang tính di truyền, liên quan đến đột biến gen dù đôi khi không tìm được nguyên nhân.
Trong thể bệnh cơ tim hạn chế, cơ tim mất dần độ đàn hồi, kém giãn nở trong thì tâm trương. Hậu quả là các buồng tim không được đổ đầy máu như bình thường, gây giảm cung lượng tim dù chức năng co bóp vẫn bảo tồn ở giai đoạn đầu. Đây là dạng bệnh hiếm gặp, thường thấy ở người lớn tuổi. Bệnh thường khởi phát sau các bệnh lý khác như lắng đọng sắt (bệnh thừa sắt), amyloidosis, sarcoidosis, rối loạn mô liên kết hoặc bệnh tim tăng bạch cầu ái toan.
Bệnh cơ tim thất phải do loạn nhịp là dạng hiếm gặp, trong đó cơ thất phải bị thay thế dần bởi mô mỡ, mô sẹo. Việc này làm gián đoạn hệ thống dẫn truyền điện tim gây loạn nhịp. Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây đột tử do tim ở người trẻ, đặc biệt là vận động viên nhưng có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, mọi mức độ hoạt động thể lực. Bệnh thường liên quan đến đột biến gen.
Người bệnh thường có những biểu hiện điển hình như đánh trống ngực, ngất, đau thắt ngực, nhịp tim nhanh và không đều. Khi có những dấu hiệu trên, cần thăm khám càng sớm càng tốt, đặc biệt nếu có người thân trong gia đình được chẩn đoán mắc bệnh hoặc đột tử do tim.
Bệnh cơ tim chu sinh là dạng suy tim hiếm gặp, xảy ra vào giai đoạn cuối thai kỳ hoặc trong vòng 1 năm sau sinh. Cơ tim, chủ yếu là thất trái suy yếu và giảm khả năng co bóp dẫn đến tụ dịch phổi và các mô ngoại vi. Bệnh gây tổn thương chủ yếu ở thất trái làm giảm phân suất tống máu thất trái (LVEF). LVEF bình thường dao động khoảng 50 – 70%. Ở bệnh, LVEF thường giảm dưới 45%, mức giảm càng sâu phản ánh suy tim càng nặng.
Người bệnh thường có các triệu chứng như khó thở, mệt mỏi, phù mắt cá chân hoặc cẳng chân. Do các biểu hiện này dễ nhầm với triệu chứng sinh lý của thai kỳ, việc chẩn đoán và điều trị đôi khi bị trì hoãn.
Nhóm này bao gồm các bệnh cơ tim không xếp vào 4 nhóm chính hoặc có cơ chế đặc biệt.

Bệnh được chẩn đoán dựa trên tổng hợp nhiều yếu tố, bao gồm khai thác bệnh sử, tiền sử gia đình, khám lâm sàng cùng các xét nghiệm cận lâm sàng chuyên sâu.
Bác sĩ sẽ bắt đầu bằng việc tìm hiểu chi tiết các triệu chứng mà người bệnh gặp phải như khó thở, đau thắt ngực, đánh trống ngực, phù chân, mệt mỏi hoặc ngất. Thời điểm khởi phát, mức độ và tần suất triệu chứng cũng được ghi nhận để đánh giá mức độ diễn tiến bệnh. Ngoài ra bác sĩ sẽ xem xét những bệnh kèm theo như huyết áp cao, tiểu đường, rối loạn mỡ máu, bệnh tuyến giáp, tiền sử nhiễm trùng, hóa trị – xạ trị hoặc dùng rượu bia, chất kích thích.
Đồng thời xem xét tiền sử gia đình, vì nhiều thể bệnh mang yếu tố di truyền. Bác sĩ sẽ hỏi xem trong gia đình có ai từng mắc bệnh cơ tim, suy tim, đột tử do tim hoặc các bệnh tim di truyền khác hay không. Những thông tin này giúp định hướng xét nghiệm di truyền và tầm soát sớm cho các thành viên trong gia đình.
Khám thực thể là bước quan trọng để đánh giá tác động của các bệnh cơ tim lên toàn bộ cơ thể. Bác sĩ sẽ nghe tim, phổi để phát hiện tiếng thổi tim, tiếng ngựa phi hoặc ran ẩm phổi. Việc quan sát phù ở mắt cá, bàn chân, cẳng chân, bụng và nổi tĩnh mạch cổ giúp nhận diện tình trạng tụ dịch. Ngoài ra bác sĩ còn đo huyết áp, nhịp tim, kiểm tra sắc da và tình trạng tưới máu ngoại vi. Mặc dù không thể xác định chẩn đoán chỉ bằng khám lâm sàng nhưng đây là nền tảng để chỉ định các xét nghiệm phù hợp.
Xét nghiệm cận lâm sàng được ứng dụng để xác nhận bệnh, phân loại thể bệnh và đánh giá mức độ tổn thương. Một số nhóm xét nghiệm quan trọng bao gồm:
Trong các trường hợp cần xác định rõ nguyên nhân hoặc chuẩn bị can thiệp, bác sĩ có thể chỉ định các thủ thuật sau:

Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng nặng nề:
Mục tiêu điều trị chính là kiểm soát triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh và giảm nguy cơ biến chứng nguy hiểm như suy tim, rối loạn nhịp tim hoặc đột tử. Phác đồ cụ thể sẽ được cá nhân hóa tùy theo thể bệnh (giãn, phì đại, hạn chế, thiếu máu cục bộ…) và mức độ suy chức năng tim.
Trong điều trị bệnh cơ tim, dùng thuốc là bước cơ bản để cải thiện chức năng tim, bảo vệ người bệnh lâu dài. Bác sĩ có thể phối hợp nhiều nhóm thuốc khác nhau nhằm tăng khả năng co bóp, bơm máu của tim, cải thiện tuần hoàn, hạ huyết áp, giảm nhịp tim khi cần. Thuốc còn hỗ trợ thải bớt dịch và natri thừa khỏi cơ thể cũng như phòng ngừa hình thành cục máu đông trong buồng tim. Tùy tình trạng người bệnh có thể được chỉ định thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể, chẹn beta giao cảm, thuốc lợi tiểu, chống đông, thuốc giãn mạch và một số thuốc chuyên biệt khác. Dùng thuốc phải tuân thủ chặt chẽ chỉ định của bác sĩ, người bệnh không tự ý tăng giảm liều hay ngừng thuốc đột ngột.
Khi bệnh diễn tiến nặng, đáp ứng kém với điều trị nội khoa hoặc kèm theo loạn nhịp phức tạp, bác sĩ có thể cân nhắc các phương pháp can thiệp chuyên sâu. Ở bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn, thủ thuật cắt bỏ vách ngăn qua đường ống thông (cồn hóa vách liên thất) được thực hiện bằng cách đưa một ống thông mỏng vào động mạch nuôi vùng cơ tim phì đại, sau đó bơm cồn vào để làm co và mỏng bớt vùng cơ dày giúp dòng máu dễ thoát ra khỏi thất trái.
Các kỹ thuật cắt đốt (ablation) qua catheter dùng năng lượng nhiệt hoặc lạnh tạo những vùng sẹo nhỏ trong cơ tim từ đó chặn các đường dẫn truyền điện tim bất thường giúp ổn định nhịp tim ở người cơ tim có loạn nhịp.
Một số thiết bị hỗ trợ được cấy vào tim hoặc lồng ngực giúp cải thiện chức năng bơm máu, giảm nguy cơ biến chứng, bao gồm:
Về phẫu thuật, cắt cơ vách liên thất (septal myectomy) là đại phẫu cắt bỏ một phần vách liên thất dày lên trong bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn giúp cải thiện dòng chảy ra khỏi thất trái và giảm hở van hai lá. Ở giai đoạn suy tim cuối, khi các phương pháp khác không hiệu quả, ghép tim là lựa chọn cuối cùng, thay thế quả tim bị tổn thương bằng tim lành của người hiến tặng.
Song song với điều trị y khoa, thay đổi lối sống khoa học hỗ trợ quản lý bệnh và phòng ngừa biến chứng. Người bệnh cần bỏ hút thuốc lá hoàn toàn để giảm quá tải lên tim và hệ mạch; điều chỉnh cân nặng về mức hợp lý theo tư vấn của bác sĩ, vì thừa cân làm tăng áp lực thể tích và áp lực lên cơ tim. Việc tập luyện thể thao đều đặn với cường độ vừa phải, phù hợp khả năng, giúp cải thiện sức bền cơ tim nhưng cần tránh gắng sức quá mức, đặc biệt ở người bị loạn nhịp hoặc bệnh cơ tim phì đại.
Chế độ ăn nên ưu tiên rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, chất béo tốt; đồng thời hạn chế muối, thực phẩm chế biến sẵn, đồ chiên rán, chất béo bão hòa và đường tinh luyện. Người suy tim thường được khuyến cáo giảm natri xuống mức khoảng 1.500 miligam mỗi ngày hoặc theo chỉ định của bác sĩ. Rượu bia cần được hạn chế tối đa, nhiều trường hợp phải kiêng hoàn toàn nếu có nguy cơ hoặc đã xuất hiện bệnh cơ tim do rượu.
Bên cạnh đó quản lý căng thẳng, ngủ đủ giấc, duy trì lịch tái khám đều đặn và tuân thủ chỉ định dùng thuốc là điều kiện tiên quyết nhằm kiểm soát bệnh, giảm tần suất nhập viện và kéo dài tiên lượng.

Phòng ngừa bệnh giúp bảo vệ chức năng tim hiện tại, giảm nguy cơ suy tim và biến chứng tim mạch về sau.
Quản lý tốt bệnh nền (yếu tố nguy cơ)
Đây là bước cơ bản để hạn chế hình thành bệnh cơ tim. Tăng huyết áp cần được điều trị đúng phác đồ, kết hợp giảm muối và thay đổi lối sống để bảo vệ thành mạch, cơ tim. Đối với tiểu đường, việc duy trì đường huyết ổn định giúp giảm tổn thương vi mạch và động mạch vành từ đó ngăn ngừa nguy cơ thiếu máu cơ tim và suy tim. Người có bệnh mạch vành cần tuân thủ chỉ định dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, statin, thuốc giãn mạch… để phòng nhồi máu cơ tim; Đồng thời điều trị rối loạn mỡ máu bằng chế độ ăn hợp lý và dùng thuốc khi cần để giảm tích tụ những mảng xơ vữa, bảo vệ hệ mạch nuôi tim.
Thay đổi lối sống lành mạnh
Duy trì lối sống khoa học giúp tối ưu hóa sức khỏe tim mạch và giảm nguy cơ mắc bệnh. Ưu tiên chế độ ăn giàu rau xanh, trái cây tươi, ngũ cốc nguyên hạt, dầu thực vật và chất béo từ cá, đồng thời hạn chế muối, đường, chất béo bão hòa sẽ giảm gánh nặng chuyển hóa lên cơ tim. Các mô hình dinh dưỡng như chế độ DASH hoặc Địa Trung Hải thường được khuyến nghị cho người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Tập luyện thể dục tối thiểu 150 phút mỗi tuần với các hình thức như chạy bộ, đạp xe, bơi lội giúp cải thiện huyết áp, kiểm soát cân nặng và tăng cường chức năng bơm máu của tim; duy trì chỉ số khối cơ thể (BMI) trong khoảng 18,5 – 22,9 kg/m² giúp giảm áp lực cơ học lên buồng tim; cần bỏ thuốc lá hoàn toàn, hạn chế tối đa rượu bia vì lạm dụng có thể gây bệnh cơ tim do rượu và tuyệt đối không dùng các chất kích thích vì có nguy cơ gây loạn nhịp, tổn thương cơ tim cấp tính.
Bên cạnh thay đổi lối sống, bổ sung tinh chất hỗ trợ tim mạch Policosanol (GDL-5), chiết xuất từ phấn mía Nam Mỹ giúp điều hòa men HMG-CoA reductase, tăng độ nhạy thụ thể lipoprotein từ đó giảm cholesterol toàn phần, LDL-C và triglyceride; Nhờ cải thiện tình trạng xơ vữa, GDL-5 gián tiếp giảm nguy cơ thiếu máu, nhồi máu cơ tim và suy tim.
Phòng ngừa các nguyên nhân khác
Ngoài các yếu tố chuyển hóa và huyết áp, việc phòng tránh những nguyên nhân trực tiếp gây tổn thương cơ tim cũng rất quan trọng. Các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm virus có khả năng gây viêm cơ tim, cần được điều trị sớm và theo dõi sát để hạn chế nguy cơ tiến triển thành bệnh giãn cơ tim. Ở những gia đình có người mắc cơ tim di truyền như cơ tim phì đại, cơ tim giãn hoặc rối loạn loạn nhịp thất phải (ARVC), sàng lọc tim mạch định kỳ và tư vấn di truyền giúp phát hiện sớm người mang gen bệnh, đồng thời xây dựng kế hoạch theo dõi phù hợp.
Người đang điều trị ung thư bằng hóa trị, đặc biệt nhóm anthracycline hoặc xạ trị vùng ngực nên được đánh giá chức năng tim định kỳ bằng siêu âm tim, ECG và các xét nghiệm liên quan để phát hiện sớm độc tính trên cơ tim. Điều này giúp can thiệp kịp thời trước khi hình thành bệnh cơ tim khó phục hồi.
Bệnh cơ tim là nhóm bệnh lý phức tạp, diễn tiến âm thầm nhưng có thể gây suy tim, đột tử nếu không được phát hiện và điều trị đúng cách. Việc phối hợp giữa điều trị nội khoa, can thiệp phẫu thuật khi cần cùng với thay đổi lối sống và kiểm soát chặt yếu tố nguy cơ sẽ giúp người bệnh cải thiện triệu chứng, giảm biến chứng, nâng cao chất lượng sống. Hãy chủ động tầm soát và phòng ngừa sớm để bảo vệ sức khỏe cơ tim lâu dài.