Bóc tách động mạch vành tự phát là một tình trạng tim mạch nguy hiểm, xảy ra khi thành động mạch nuôi tim bị tách lớp làm giảm hoặc tắc dòng máu đến cơ tim. Các triệu chứng có thể khởi phát đột ngột, dễ nhầm lẫn với những cơn nhồi máu cơ tim thông thường. Để hiểu rõ bản chất của bệnh, hãy cùng ECO Pharma tìm hiểu ngay sau đây.

Bóc tách động mạch vành tự phát (SCAD) là tình trạng xuất hiện vết rách ở thành động mạch nuôi tim mà không do chấn thương, can thiệp mạch vành hoặc vỡ mảng xơ vữa. Máu từ lòng mạch chảy vào giữa các lớp thành mạch tạo ra khối máu tụ và một lòng mạch giả làm giảm hoặc tắc dòng máu đến tim từ đó có thể gây thiếu máu cơ tim hoặc nhồi máu cơ tim.
Bóc tách động mạch vành xảy ra ở cả nam và nữ nhưng nữ là chủ yếu (chiếm khoảng 90%), đặc biệt trong độ tuổi 40 – 59. Mang thai hoặc giai đoạn sau sinh, loạn sản sợi cơ, các bệnh lý mạch máu và stress làm tăng nguy cơ bị bóc tách động mạch vành. (1)
Trong điều kiện bình thường máu sẽ lưu thông trơn tru trong lòng động mạch để nuôi tim tuy nhiên ở người bị bóc tách động mạch vành, máu có thể đi vào giữa các lớp của thành mạch và tạo thành một khối máu tụ nội thành. Khối máu tụ này làm chèn ép lòng mạch thật khiến dòng máu đến cơ tim bị giảm hoặc tắc nghẽn từ đó gây thiếu máu cơ tim và thậm chí dẫn đến nhồi máu cơ tim.
Hai cơ chế hình thành khối máu tụ nội thành trong vỡ mạch vành bao gồm:
Quá trình này dẫn đến sự hình thành khối máu tụ trong thành mạch từ đó gây chèn ép lòng mạch và làm giảm lưu lượng máu đến cơ tim.
Bóc tách động mạch vành tự phát có cơ chế bệnh sinh khác với phần lớn các trường hợp nhồi máu cơ tim do xơ vữa động mạch. Trong khi hội chứng mạch vành cấp thường liên quan đến vỡ mảng xơ vữa và hình thành huyết khối trong lòng mạch thì bóc tách động mạch vành chủ yếu xuất phát từ sự tách lớp thành mạch và hình thành khối máu tụ nội thành.

Bóc tách động mạch vành thường khởi phát đột ngột và có biểu hiện tương tự nhồi máu cơ tim. Trong đó đau ngực là triệu chứng phổ biến, gặp ở 90% người bệnh.
Các triệu chứng thường gặp bao gồm: (2)
Ở phụ nữ đang mang thai hoặc mới sinh con, tình trạng này có thể diễn tiến nặng hơn với nguy cơ gặp các biến chứng nguy hiểm như rối loạn nhịp tim, sốc tim hoặc ngừng tim đột ngột.
Hậu quả do bóc tách động mạch vành tự phát thường gặp là tình trạng thiếu máu cơ tim cấp hoặc nhồi máu cơ tim. Khi lớp thành mạch bị tách ra dòng máu trong lòng mạch bị cản trở khiến vùng cơ tim phía sau không nhận đủ oxy. Nếu kéo dài các tế bào cơ tim có thể bị tổn thương không hồi phục và để lại sẹo vĩnh viễn.
Ở những trường hợp nặng hơn người bệnh có thể gặp các biến chứng nguy hiểm như rối loạn nhịp tim, suy tim cấp, sốc tim hoặc ngừng tim đột ngột. Nguy cơ này cao hơn khi tổn thương xảy ra ở các nhánh động mạch lớn, đoạn gần hoặc thân chung động mạch vành trái hoặc khi vùng cơ tim bị thiếu máu rộng.
Về lâu dài một số người bệnh có thể gặp tình trạng đau ngực tái diễn, giảm khả năng gắng sức hoặc suy giảm chức năng tim nếu cơ tim đã bị tổn thương trước đó. Ngoài ra các vấn đề tâm lý như lo âu sau biến cố tim mạch cũng khá thường gặp.
Tình trạng lóc tách động mạch vành cũng có nguy cơ tái phát. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tái phát dao động trong khoảng 10% (3). Ngoài ra nhiều bệnh nhân bóc tách động mạch vành còn kèm theo những bất thường khác ở mạch máu, đặc biệt là loạn sản sợi cơ.
Để chẩn đoán bóc tách động mạch vành, bác sĩ thường không dựa vào một xét nghiệm duy nhất mà cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Dưới đây là những phương pháp chẩn đoán tình trạng này:
Khi nghi ngờ có tổn thương tim, bác sĩ sẽ chỉ định xét nghiệm máu để đo troponin. Đây là một chất được giải phóng vào máu khi cơ tim bị tổn thương. Ở bệnh nhân bóc tách động mạch vành tự phát, nồng độ troponin thường tăng lên.
Ngoài ra một số kiểm tra khác cũng giúp đánh giá tình trạng tim:
Các phương pháp hình ảnh trong lòng mạch như siêu âm nội mạch (IVUS) hoặc chụp cắt lớp quang học (OCT) có thể giúp quan sát rõ:
Chụp mạch vành là phương pháp được sử dụng đầu tiên để xác định tình trạng của động mạch vành. Bác sĩ sẽ đưa một ống nhỏ vào mạch máu, bơm thuốc cản quang và ghi lại hình ảnh bên trong mạch. Trên hình ảnh có thể thấy mạch máu không đều, xuất hiện nhiều lòng mạch song song hoặc bị hẹp kéo dài giống như sợi chỉ. Trong một số trường hợp mạch có thể gần như bị tắc do máu tụ trong thành mạch hoặc do lớp thành mạch bị tách ra.
Trong một số trường hợp bác sĩ có thể chỉ định chụp CT tim để theo dõi tình trạng mạch vành mà không cần can thiệp xâm lấn, đặc biệt khi tổn thương nằm ở các đoạn mạch gần tim hoặc ở những động mạch có kích thước lớn.

Tùy vào mức độ nặng, vị trí tổn thương và tình trạng của người bệnh, bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp nhằm phục hồi lưu lượng máu và bảo vệ cơ tim. Dưới đây là những phương pháp điều trị bệnh:
Điều trị bảo tồn thường là phương pháp được ưu tiên ban đầu đối với những bệnh nhân ổn định. Hơn 90% bệnh nhân bóc tách động mạch vành tự phát có dấu hiệu lành thương trên chụp mạch, thường trong vòng một tháng. Tuy nhiên nhồi máu cơ tim tái phát do bóc tách lan rộng không phải là hiếm. Tỷ lệ tái phát khoảng 18%, trong đó khoảng một nửa số trường hợp xảy ra trong tuần đầu tiên.
Những bệnh nhân cần được nhập viện và theo dõi trong 3 – 5 ngày, đồng thời được theo dõi chặt chẽ sau khi xuất viện. Chụp mạch vành xâm lấn để kiểm tra lại chỉ được chỉ định cho các trường hợp nguy cơ cao như có triệu chứng tái phát, kết quả nghiệm pháp gắng sức bất thường hoặc có tổn thương ở vị trí nguy hiểm như thân chung, đoạn gần của động mạch liên thất trước hoặc bệnh lý nhiều nhánh. Trong các trường hợp ổn định, có thể theo dõi bằng chụp CT mạch vành.
Can thiệp mạch vành qua da (PCI) là phương pháp giúp tái thông dòng máu bằng cách đưa dây dẫn và đặt stent tại vị trí mạch bị tổn thương. Tuy nhiên trong trường hợp bóc tách động mạch vành tự phát, phương pháp này không phải lúc nào cũng phù hợp.
Phương pháp can thiệp mạch vành có thể cho kết quả không tối ưu và làm tăng nguy cơ biến chứng do dây dẫn có thể đi nhầm vào lòng mạch giả, còn nong bóng hoặc đặt stent có thể gây ra bóc tách mới hoặc làm lan rộng vùng tổn thương hiện có.
Bên cạnh đó phần lớn tổn thương trong lóc tách động mạch vành thường nằm ở đoạn xa của mạch vành khiến việc can thiệp trở nên khó khăn hơn. Vì vậy can thiệp mạch vành thường chỉ được cân nhắc khi người bệnh có thiếu máu cơ tim kéo dài hoặc tình trạng huyết động không ổn định.
Phẫu thuật bắc cầu được chỉ định trong các trường hợp gồm: khi can thiệp mạch vành thất bại, khi có bóc tách ở thân chung hoặc đoạn gần của động mạch vành, hoặc khi tình trạng thiếu máu cơ tim không cải thiện dù đã điều trị bảo tồn. Trong phẫu thuật, bác sĩ sẽ lấy một đoạn mạch máu từ vị trí khác trong cơ thể, thường là từ chân để tạo một đường dẫn máu mới đi vòng qua vùng động mạch bị tổn thương.

Sau khi điều trị, người bệnh cần chú trọng các biện pháp phòng ngừa để giảm nguy cơ tái phát. Những biện pháp này bao gồm:
Ngoài ra phụ nữ từng bị bóc tách động mạch vành cần được tư vấn trước khi mang thai. Lí do là vì giai đoạn thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ bệnh tái phát. Việc trao đổi với bác sĩ giúp đánh giá mức độ an toàn và lựa chọn thời điểm phù hợp.
Bóc tách động mạch vành tự phát có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Nhận biết sớm triệu chứng, thăm khám đúng lúc và tuân thủ điều trị đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chức năng tim và hạn chế nguy cơ tái phát. Bên cạnh đó duy trì lối sống phù hợp và theo dõi sức khỏe định kỳ giúp người bệnh kiểm soát tốt tình trạng này và giảm thiểu biến chứng về lâu dài.