Với hơn 31,9 triệu ca tại khu vực châu Á (2024) và khoảng 1,6 triệu ca ở Việt Nam (2022), suy tim đến nay vẫn đang là gánh nặng y tế cấp bách. Trong đó các biến chứng từ huyết áp cao và bệnh lý tim mạch ngày càng gia tăng báo động. Việc trang bị kiến thức về các bệnh lý gây suy tim sẽ giúp bạn chủ động bảo vệ sức khỏe trước khi quá muộn. Hãy cùng ECO Pharma tìm hiểu chi tiết qua bài viết sau đây.

Suy tim hình thành khi tim bị tổn thương về cấu trúc hoặc chức năng làm giảm khả năng bơm máu đáp ứng nhu cầu chuyển hóa của cơ thể. Những tổn thương này thường bắt nguồn từ bệnh thiếu máu cục bộ, tăng huyết áp kéo dài, bệnh van tim, viêm cơ tim cùng các bất thường di truyền.
Khi cung lượng tim giảm cơ thể sẽ kích hoạt hàng loạt cơ chế bù trừ, nổi bật là tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm và hệ renin-angiotensin-aldosterone. Giai đoạn đầu những cơ chế này giúp duy trì huyết áp và tưới máu cơ quan thông qua việc làm tăng nhịp tim, tăng co bóp và giữ muối – nước. Tuy nhiên nếu kéo dài chúng lại gây co mạch, tăng hậu tải và tụ dịch khiến tim quá tải.
Song song đó cơ thể kích hoạt yếu tố thần kinh – nội tiết như catecholamine, RAAS, vasopressin, endothelin và các cytokine viêm,… thúc đẩy phì đại cơ tim, xơ hóa mô cơ và chết tế bào cơ tim dẫn đến tái cấu trúc tim bất lợi. Hậu quả là tim mất dần khả năng co bóp – giãn nở gây tụ máu phổi, tụ dịch ngoại vi và giảm tưới máu cơ quan. Vòng xoắn bệnh lý này khiến suy tim dần diễn tiến nặng, dễ rơi vào giai đoạn mất bù nếu không được điều trị kịp thời. (1)
Bất kỳ tình trạng nào dưới đây cũng có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây suy tim.
Bệnh mạch vành là một trong nhóm các bệnh lý gây suy tim phổ biến nhất. Những mảng xơ vữa tích tụ trong lòng mạch làm hẹp mạch, giảm lưu lượng máu nuôi tim có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim khi mạch bị tắc hoàn toàn.
Tình trạng thiếu máu cơ tim kéo dài làm giảm oxy và dưỡng chất đến tế bào cơ tim gây rối loạn co bóp, giảm phân suất tống máu và tăng nguy cơ suy tim tiến triển. Ở nhiều quốc gia đang phát triển tỷ lệ mắc bệnh mạch vành có xu hướng tăng do thói quen ăn nhiều chất béo, đồ ngọt, thức ăn nhanh cùng với lối sống ít vận động.
Bệnh van tim làm gián đoạn cơ chế “một chiều” của dòng máu trong tim khiến tim phải chịu thêm áp lực và thể tích máu, lâu dần dẫn đến suy tim. Các dạng thường gặp bao gồm:
Về dịch tễ khoảng 2,5% người Mỹ mắc bệnh van tim và mỗi năm có khoảng 27.000 ca tử vong liên quan đến bệnh lý này. Trong nhóm bệnh van, sa van hai lá là vấn đề khá phổ biến. Ngoài ra bệnh van tim có thể liên quan đến thấp tim (thường gặp ở trẻ em, thanh thiếu niên) hoặc thoái hóa do tuổi tác. Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng cũng có thể phá hủy cấu trúc van và làm suy tim diễn tiến nhanh.

Bệnh cơ tim là nhóm bệnh làm tổn thương trực tiếp cơ tim, không xuất phát từ các nguyên nhân quen thuộc như bệnh mạch vành, tăng huyết áp, bệnh van tim hay dị tật tim bẩm sinh. Những dạng thường gặp gồm cơ tim giãn, cơ tim phì đại, cơ tim hạn chế, rối loạn nhịp thất phải và tình trạng thất trái giảm co bóp. Không chỉ gây suy tim, bệnh cơ tim còn có thể làm rối loạn nhịp nguy hiểm, thậm chí đột tử.
Dưới đây là một số nhóm bệnh cơ tim phổ biến thuộc các bệnh gây suy tim:
Nhịp tim nhanh hoặc rối loạn nhịp kéo dài có thể khiến tim bơm máu kém hiệu quả gây suy tim với cung lượng thấp. Khi đó các buồng tim bị giãn ra, thành tâm thất dày lên hoặc mỏng đi bất thường. Đồng thời hoạt động điện tim thay đổi, thể hiện qua thời gian dẫn truyền kéo dài và biên độ điện thế giảm. Những biến đổi này kích hoạt các phản ứng thần kinh – nội tiết bất lợi làm suy tim ngày càng nặng hơn.
Bệnh tim bẩm sinh là tình trạng tim hoặc các mạch máu lớn gần tim phát triển không bình thường ngay từ khi còn trong bụng mẹ. Khi xuất hiện các khiếm khuyết từ lỗ thông nhỏ giữa các buồng tim đến những dị tật phức tạp hơn, tim phải làm việc nhiều hơn để bù trừ. Nếu kéo dài tình trạng này sẽ gây quá tải về thể tích hoặc áp lực và dẫn đến suy tim.
Ước tính khoảng 1% trẻ sinh ra mắc bệnh tim bẩm sinh. Nhiều trường hợp nhẹ có thể sống đến tuổi trưởng thành, sinh hoạt gần như bình thường. Tuy nhiên số khác lại có nguy cơ cao gặp các biến chứng như tăng áp phổi, rối loạn nhịp tim, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng và suy tim, vì vậy cần được theo dõi y tế lâu dài.
Các bệnh phổi mãn tính nặng điển hình như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) khiến lượng oxy trong máu giảm dần, tim phải phải chịu áp lực lớn hơn. Khi tình trạng này kéo dài tim sẽ dễ suy yếu hoặc làm bệnh tim sẵn có nặng hơn. Ở người khỏe mạnh cơ thể hít thở khoảng 25.000 lần mỗi ngày cho thấy tim và phổi luôn phối hợp chặt chẽ. Vì vậy khi phổi hoạt động kém tim buộc phải làm việc quá sức để bù trừ, lâu dần dẫn đến suy tim. (3)

Huyết áp cao là một trong các bệnh lý gây suy tim ngay cả khi chưa có bệnh mạch vành. Huyết áp cao khiến tim phải bơm máu chống lại áp lực lớn hơn bình thường làm thành tim chịu căng thẳng kéo dài và kích hoạt các cơ chế thần kinh – nội tiết. Lâu dần cơ tim dày lên, đàn hồi kém và dẫn đến suy tim, có thể gặp ở dạng suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ lẫn phân suất tống máu bảo tồn.
Tiểu đường type 2 làm tăng nguy cơ suy tim. Nhiều dữ liệu cho thấy người mắc bệnh có nguy cơ suy tim cao gấp khoảng hai lần so với người không mắc bệnh. Ở chiều ngược lại trong nhóm người bệnh suy tim có khoảng 20 – 40% đồng mắc tiểu đường. Nếu hai bệnh đồng thời tồn tại nguy cơ tử vong và nhập viện gia tăng, tiên lượng giảm, nhất là ở người tim bị suy do bệnh mạch vành.
Tiểu đường và suy tim “khuếch đại” lẫn nhau thông qua những cơ chế sau:
Kết quả là tim bơm máu ngày càng kém, cũng khó giãn ra để nhận máu khiến suy tim nặng dần.
Kiểm soát tốt các bệnh lý gây suy tim là bước quan trọng nhằm hạn chế tối đa nguy cơ nhập viện và phòng biến chứng nặng. Trọng tâm của chiến lược là điều trị đúng bệnh nền theo phác đồ, theo dõi chỉ số định kỳ và duy trì lối sống có lợi cho tim.
Kiểm soát chặt bệnh nền theo phác đồ: Tùy nguyên nhân, bác sĩ sẽ xây dựng phác đồ cá nhân hóa. Người bệnh không nên tự ý ngưng thuốc khi thấy triệu chứng thuyên giảm vì nhiều bệnh lý vẫn âm thầm diễn tiến có thể dẫn đến suy tim nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Theo dõi các chỉ số quan trọng: Duy trì thói quen theo dõi giúp phát hiện sớm nguy cơ phù, suy giảm chức năng tim trước khi suy tim biểu hiện rầm rộ:
Tối ưu lối sống theo hướng “bảo vệ cơ tim”: Điều chỉnh lối sống giúp giảm tải cho tim đồng thời hỗ trợ kiểm soát huyết áp, rối loạn mỡ máu và đường huyết:
Xử trí yếu tố làm bệnh nặng lên và phòng nhiễm trùng: Nhiều yếu tố tưởng nhỏ lại có thể kích hoạt đợt tim mạch mất bù ở người có bệnh nền, làm các bệnh gây suy tim bùng phát nhanh hơn:
Nhận biết dấu hiệu cảnh báo để đi khám sớm: Nên đi khám tim mạch sớm hoặc gọi cấp cứu hỗ trợ khi xuất hiện một trong các dấu hiệu sau:

Có thể thấy việc nhận diện sớm các bệnh lý gây suy tim là bước tiên quyết trong việc bảo vệ hệ tim mạch. Kiểm soát tốt huyết áp, đường huyết, mỡ máu và điều trị đúng phác đồ các bệnh mạch vành, van tim hay bệnh cơ tim giúp làm chậm tiến triển bệnh, giảm biến chứng nguy hiểm. Khi chủ động điều chỉnh lối sống, theo dõi tim định kỳ, người bệnh sẽ có thể duy trì chức năng tim ổn định để sống thọ hơn với chất lượng sống tốt hơn.