Mặc dù tỷ lệ mắc chỉ 4% – 27% nhưng ngưng thở khi ngủ khi mang thai có liên quan đến thai kỳ nguy cơ cao như huyết áp thai kỳ, tiểu đường thai kỳ, tiền sản giật và dọa sinh sớm. Nó cũng liên quan đến sự phát triển bất thường của thai nhi có thể dẫn đến dị tật bẩm sinh và mắc bệnh tật sau chào đời cũng như nguy cơ bệnh tật ở người mẹ.
Vì vậy ngưng thở khi ngủ khi mang thai cần được nhận biết sớm, kiểm soát tốt, đảm bảo cho một thai kỳ khỏe mạnh và tránh các biến cố quanh sinh. Cùng ECO Pharma tìm hiểu chi tiết ngay sau đây.

Ngưng thở khi ngủ là một chứng rối loạn giấc ngủ phổ biến trong dân số chung. Tình trạng này là do đường thở trên bị xẹp xuống định kỳ trong lúc ngủ gây gián đoạn giấc ngủ, giảm độ bão hòa của oxy không liên tục và kích hoạt hệ thần kinh giao cảm cuối cùng dẫn đến ngừng thở hoàn toàn hoặc một phần trong ít nhất 10 giây.
Phụ nữ có thể đã mắc chứng ngưng thở khi ngủ từ trước và phát triển trầm trọng hơn trong thai kỳ hoặc trong giai đoạn mang thai mới mắc phải. Phạm vi bài viết này sẽ trình bày về trường hợp thứ hai, tức là mắc phải trong thai kỳ.
Nguy cơ mắc phải chứng ngưng thở khi ngủ trong thai kỳ cao hơn chủ yếu do các thay đổi sinh lý thai kỳ, chẳng hạn như hẹp họng, tắc nghẽn mũi; phù nề, tăng cân và những thay đổi của nội tiết tố. Trong đó những phụ nữ thừa cân, béo phì, lớn tuổi, ngủ ngáy và tăng huyết áp mãn tính có nguy cơ mắc cao nhất.
Khi mang thai nồng độ các hormone hCG, hPL, progesterone, estrogen và cortisol sẽ tăng cao để duy trì thai kỳ. Sự dao động hormone có thể ảnh hưởng đến khả năng điều khiển hô hấp và trương lực cơ của người mẹ gây ra chứng ngưng thở khi ngủ trong thai kỳ. Trong đó nồng độ cao của progesterone và estrogen là yếu tố nguy cơ được phát hiện nhiều nhất. (1)
Progesterone hoạt động như một chất kích thích hô hấp, giúp bà bầu thở sâu hơn, tăng thông khí và hạn chế tích tụ CO2 trong máu. Hormone này cũng có thể hỗ trợ hoạt động của các cơ làm giãn đường thở trên khi ngủ, nhờ đó góp phần giữ đường thở thông thoáng. Một số nghiên cứu ghi nhận phụ nữ mang thai có nồng độ progesterone thấp có thể dễ mắc hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ hơn.
Ngược lại estrogen có thể làm niêm mạc mũi xung huyết, phù nề và giảm độ thông thoáng. Khi bà bầu bị nghẹt mũi, phải thở bằng miệng, luồng khí đi qua vùng hầu họng dễ bị cản trở hơn, tăng nguy cơ ngáy và tắc nghẽn đường thở trên. Ngoài ra tình trạng giữ nước, phù mô mềm và phản ứng viêm trong thai kỳ cũng có thể khiến mô quanh đường thở sưng nề, dễ xẹp xuống khi mẹ nằm ngủ từ đó làm bà bầu bị ngưng thở khi ngủ hoặc khiến triệu chứng nặng hơn.
Những thay đổi về chuyển hóa và kháng insulin thường gặp trong thai kỳ có thể liên quan đến tăng cân và tăng tích tụ mỡ. Các tình trạng này có thể làm tăng nguy cơ ngưng thở khi ngủ do mô mỡ tích tụ quanh mô mềm đường thở và mô vú phát triển hơn gây hẹp đường thở và tăng sức cản đường thở. (2)
Nguy cơ này thường rõ hơn ở các bà bầu bị thừa cân trước mang thai hoặc tăng cân nhanh, tăng cân vượt mức khuyến nghị trong thai kỳ.
Trong quá trình thai nhi phát triển tử cung ngày càng tăng kích thước và đẩy cơ hoành lên cao, đặc biệt ở tam cá nguyệt thứ ba. Sự chèn ép này làm dung tích phổi giảm gây ra hụt hơi, khó thở lúc nằm và phải gắng sức hơn để hít thở. (3)
Vào ban đêm các cơ vùng hầu họng sẽ giãn tự nhiên trong lúc ngủ. Nếu dung tích phổi giảm và luồng khí lưu thông kém đường thở trên sẽ xẹp xuống gây tắc nghẽn tạm thời. Đây là một trong những yếu tố khiến chứng ngưng thở khi ngủ dễ xuất hiện trong thai kỳ và trở nên nặng hơn ở những tháng cuối.

Trong thai kỳ tình trạng viêm toàn thân sẽ gia tăng như một phần của quá trình thích nghi miễn dịch để hỗ trợ sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên nó cũng có thể góp phần gây viêm và sưng đường thở, làm tăng nguy cơ mắc chứng ngưng thở khi ngủ.
Ví dụ như tình trạng viêm mũi thai kỳ rất phổ biến với tỷ lệ mắc 18% – 30% ở phụ nữ mang thai và triệu chứng này thường nặng hơn ở tam cá nguyệt thứ ba. (4)
Giai đoạn mang thai hệ tuần hoàn của người mẹ tăng hoạt động để đáp ứng nhu cầu tưới máu cho tử cung, nhau thai và thai nhi. Lúc này thể tích máu có thể tăng khoảng 40% – 50% kèm theo tăng cung lượng tim và xu hướng tích tụ dịch sinh lý trong cơ thể.
Sự gia tăng thể tích dịch này có thể gây phù nề mô mềm bao gồm niêm mạc mũi, hầu họng. Khi mô quanh đường thở trên bị sưng nề lòng đường thở sẽ bị hẹp lại làm tăng sức cản luồng khí trong lúc ngủ. Sự thu hẹp đường thở do thay đổi tuần hoàn và phù nề có thể góp phần làm tăng nguy cơ ngưng thở khi ngủ trong thai kỳ, đặc biệt ở những bà bầu bị tăng cân nhiều, nghẹt mũi hoặc tăng huyết áp thai kỳ.
Dấu hiệu ngưng thở khi ngủ trong thai kỳ đặc trưng bởi triệu chứng ngáy to, thở ngắt quãng hoặc có lúc ngừng thở rồi thở hổn hển trở lại. Thông thường các bà bầu rất khó tự phát hiện ra bất thường đường thở trong lúc ngủ mà chủ yếu là bởi người ngủ cùng phòng.

Ngưng thở khi ngủ trong thai kỳ có thể gây ra các bất lợi cho thai kỳ bao gồm cả các nguy cơ đối với cả thai nhi và nguy cơ đối với người mẹ nếu không được điều trị.
Ngưng thở khi ngủ có liên quan đến nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ và tiểu đường thai kỳ. Tăng huyết áp thai kỳ có thể gây ra biến chứng tiền sản giật dẫn đến tử vong ở cả bà bầu và thai nhi; tỷ lệ tử vong được ghi nhận là khoảng 72.000 ca mỗi năm, nếu tính trung bình theo ngày là khoảng 200 ca một ngày.
Tình trạng thiếu oxy từng đợt trong lúc ngủ cũng làm tăng gánh nặng cho hệ tim mạch. Nhiều nghiên cứu cho thấy ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ mang thai có liên quan đến biến chứng tim mạch nặng như suy tim, phù phổi, đồng thời làm tăng tỷ lệ sinh mổ hoặc sinh đường âm đạo phải hỗ trợ. Nguy cơ này thường cao hơn ở các bà bầu có thừa cân, béo phì, huyết áp cao mạn tính, từng ngáy to trước khi mang thai và bị tăng cân nhanh, thừa cân trong thai kỳ.
Ngưng thở khi ngủ thai kỳ có thể ảnh đến thai nhi thông qua ảnh hưởng đến người mẹ. Các cơn ngưng thở lặp lại có thể làm tăng huyết áp của mẹ dẫn đến giảm lưu lượng máu qua nhau thai và giảm khả năng cung cấp oxy cho thai nhi. Giấc ngủ của mẹ bị gián đoạn liên tục cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình tiết hormone tăng trưởng và các cơ chế phục hồi sinh lý từ đó gián tiếp tác động đến sự phát triển của thai.
Các biến chứng thai nhi và sơ sinh được ghi nhận gồm sinh non, trẻ nhẹ cân, thai nhỏ so với tuổi thai, thai chậm tăng trưởng và tình trạng sơ sinh kém khi chào đời, biểu hiện qua điểm Apgar thấp. Một số báo cáo cũng cho thấy ngưng thở khi ngủ ở mẹ có thể liên quan đến tăng nguy cơ thai chết lưu, tử vong chu sinh và tỷ lệ trẻ phải nhập đơn vị hồi sức tích cực sơ sinh cao hơn.
Chứng ngưng thở khi ngủ thai kỳ thường sẽ càng trầm trọng hơn theo sự phát triển của thai nhi. Sau sinh nó có thể giảm dần rồi tự biến mất nhưng cũng có thể phát triển mạn tính. Nghiên cứu cho thấy khoảng một nửa số phụ nữ được chẩn đoán mắc chứng ngưng thở khi ngủ thai kỳ đã khỏi bệnh sau khi sinh do các rối loạn thai kỳ tạm thời đã ổn định trở lại.
Trong khi đó những phụ nữ khó về lại cân nặng bình thường sau sinh, phụ nữ có thừa cân, béo phì hoặc mắc chứng ngủ ngáy, huyết áp cao mãn tính từ trước khi mang thai thường sẽ tiếp tục sống chung với chứng ngưng thở khi ngủ sau sinh.
Chẩn đoán ngưng thở khi ngủ trong thai kỳ thường bắt đầu bằng việc hỏi về triệu chứng ngáy to, thở ngắt quãng, sặc nghẹn lúc ngủ, buồn ngủ ban ngày, đau đầu buổi sáng; và các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, tăng cân nhanh, tiền sử thừa cân, béo phì, ngủ ngáy. Sau đó là thăm khám đường thở trên để tìm nguyên nhân gây tắc nghẽn, chẳng hạn như nghẹt mũi – xoang, phù nề niêm mạc, amidan lớn, hàm nhỏ, cổ ngắn hoặc thừa cân.
Nếu nghi ngờ ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ, đo giấc ngủ sẽ được sử dụng để củng cố chẩn đoán. Đo đa ký giấc ngủ tại cơ sở y tế hoặc sử dụng thiết bị tự theo dõi tại nhà để ghi nhận luồng khí thở, nhịp thở, nhịp tim, tư thế ngủ, độ bão hòa oxy máu và số lần ngưng thở/giảm thở mỗi giờ. Các kết quả này sẽ giúp xác định chính xác bệnh và mức độ bệnh để đưa ra can thiệp phù hợp, an toàn cho thai kỳ.

Điều trị ngưng thở khi ngủ thai kỳ dựa trên mức độ triệu chứng, tuổi thai và các yếu tố nguy cơ đi kèm. Mục tiêu là giúp kiểm soát tốt chứng ngưng thở khi ngủ giúp bảo vệ giấc ngủ thai kỳ cũng như kiểm soát tốt các yếu tố gây ngưng thở khi ngủ và phòng ngừa các nguy cơ thai kỳ mà không gây ảnh hưởng xấu đến thai nhi.
Các phương pháp điều trị gồm:
Tư thế ngủ nghiêng đặc biệt nghiêng trái có thể giúp giảm áp lực tử cung lên động mạch, hỗ trợ tuần hoàn và giảm tắc hẹp đường thở lúc ngủ. Các bà bầu nên duy trì tư thế nằm nghiêng và nên dùng gối hỗ trợ bà bầu cũng như gối đầu cao hơn để làm giảm các triệu chứng ngưng thở khi ngủ và mang đến sự thoải mái hơn. Các thay đổi nhỏ này cũng có thể giúp làm giảm chứng trào ngược dạ dày – thực quản thai kỳ.
Máy CPAP thường được chỉ định cho ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ mức trung bình đến nặng hoặc khi bà bầu có giảm oxy máu rõ trong lúc ngủ. Thiết bị tạo luồng khí áp lực dương liên tục qua mặt nạ mũi hoặc mũi – miệng giúp giữ đường thở mở, giảm các cơn ngưng thở về đêm. CPAP cũng có thể giúp giảm ngáy và cải thiện độ bão hòa oxy máu nên cũng giảm được triệu chứng đau đầu khi thức dậy.
Các bà bầu cần sử dụng máy CPAP theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Nếu trong quá trình sử dụng máy bị khô mũi – miệng, khó chịu với mặt nạ, khó thích nghi hoặc máy bị rò khí cần cân nhắc dùng thêm dụng cụ miệng chuyên biệt.
Ngoài ra trong điều trị chứng ngưng thở khi ngủ, các yếu tố nguy cơ gây bệnh cần phải được kiểm tốt. Đặc biệt là kiểm soát cân nặng, huyết áp – tim mạch và viêm mũi – xoang.

Bất cứ khi nào nghi ngờ gặp vấn đề về giấc ngủ và sức khỏe thai kỳ các bà bầu đều nên đi thăm khám sớm. Thật khó để tự nhận biết bản thân có gặp vấn đề về giấc ngủ hay không nhưng nếu thường xuyên thức dậy với các triệu chứng đau đầu, mệt mỏi, khô miệng và ban ngày rất buồn ngủ, khó tập trung hãy nghĩ đến khả năng đã gặp phải vấn đề với giấc ngủ.
Tóm lại chứng ngưng thở khi ngủ khi mang thai là một yếu tố nguy cơ của các biến chứng thai kỳ có thể dẫn đến sinh non, tử vong và bệnh tật ở cả mẹ và thai nhi vì vậy nên chủ động phòng ngừa bằng cách điều trị để chữa khỏi hoặc kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ khi có kế hoạch mang thai; khi đã mang thai cần thăm khám thai sản định kỳ, giữ gìn sức khỏe và đặc biệt tránh cảm cúm; hạn chế tiếp xúc với các yếu tố gây dị ứng; cố gắng giữ cân nặng theo tiêu chuẩn thai kỳ.