Nhồi máu cơ tim thành dưới chiếm 40 – 50% tổng số các trường hợp mắc bệnh. Nhìn chung tình trạng này có tiên lượng tốt hơn nhồi máu cơ tim thành trước (tỷ lệ tử vong trong bệnh viện chỉ 2 – 9%), tuy nhiên một số đặc điểm đi kèm cho thấy tiên lượng xấu hơn. Cùng ECO Pharma tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến bệnh lý này trong bài viết sau.

Nhồi máu cơ tim thành dưới là một dạng đặc biệt của nhồi máu cơ tim cấp. Đây là tình trạng xảy ra khi dòng máu nuôi dưỡng vùng thành dưới của tim (nhánh động mạch vành phải hoặc nhánh mũ của động mạch vành trái) bị tắc nghẽn đột ngột. Điều này có thể gây ra nhồi máu cơ tim ST chênh lên hoặc không ST chênh lên. (1)
Thực tế thành dưới của tim là phần dưới của tâm thất trái, có chức năng bơm máu giàu oxy đến các bộ phận còn lại của cơ thể. Không có đủ máu nuôi dưỡng vùng thành dưới của tim sẽ khiến tế bào cơ tim bị thiếu oxy dẫn đến hoại tử, suy giảm chức năng co bóp, thậm chí tử vong nếu không xử trí kịp thời.
Nhồi máu cơ tim thành dưới có một số điểm khác biệt so với các vị trí khác của tim, cụ thể như sau:
| Thành dưới | Thành trước | Thành sau | Thành bên | |
| Mức độ phổ biến | Chiếm khoảng 40%. | Nhồi máu cơ tim ST chênh lên phía trước chiếm khoảng 33% trong số tất cả các trường hợp STEMI. | Chiếm khoảng 15 – 21% . | Chiếm khoảng 13.4% trong các trường hợp mắc STEMI. |
| Nguyên nhân | Thường do xơ vữa động mạch, dẫn đến tắc nghẽn ở động mạch vành phải. | Thường là hậu quả của tắc nghẽn động mạch liên thất trước (LAD) do xơ vữa động mạch. | Thường xảy ra khi tuần hoàn động mạch vành sau bị gián đoạn do vỡ mảng xơ vữa động mạch hoặc huyết khối trong lòng mạch. | Thường phát sinh từ sự vỡ mảng xơ vữa động mạch cấp tính, sau đó hình thành huyết khối ở động mạch vành mũ (LCx) trái hoặc một trong các nhánh của nó. |
| Triệu chứng | Đau ngực, khó thở, buồn nôn, đổ mồ hôi, mệt mỏi và đau lan xuống hàm hoặc cánh tay. | Đau thắt ngực là triệu chứng điển hình. Ngoài ra còn có khó thở, hồi hộp, lo lắng, buồn nôn, nôn và toát mồ hôi. | Nam giới có nhiều khả năng bị đau ngực hơn, phụ nữ có thể biểu hiện các triệu chứng không điển hình hơn như mệt mỏi, khó thở, khó tiêu, buồn nôn hoặc nôn, đánh trống ngực hoặc suy nhược. | Cảm giác khó chịu ở ngực nhẹ hoặc không điển hình so với nhồi máu cơ tim thành trước hoặc thành dưới. |
| Chẩn đoán | Điện tâm đồ cho thấy đoạn ST chênh lên ở các chuyển đạo II, III và aVF. Xét nghiệm máu xác nhận các dấu ấn sinh học tim. | Điện tâm đồ cho thấy ST chênh lên ở một số hoặc tất cả các chuyển đạo V1 đến V6. Ngoài ra xét nghiệm men tim Troponin-I, huyết thanh, siêu âm tim qua thành ngực, X-quang ngực,… cũng có thể được thực hiện. | Tình trạng này thường xảy ra đồng thời với ở dưới hoặc dưới bên, nhưng khi xảy ra đơn lẻ, nhồi máu cơ tim sau là một tình trạng khó chẩn đoán bằng điện tâm đồ. Vì vậy cần thực hiện thêm X-quang, xét nghiệm máu, siêu âm tim,… | Chẩn đoán có thể khó khăn, vì những thay đổi trên điện tâm đồ ở các chuyển đạo bên thường rất khó phát hiện và dễ bị bỏ qua. Vì vậy cần thực hiện thêm siêu âm tim và các phương pháp khác. |
| Tiên lượng | Tiên lượng tốt hơn so với các vùng khác, chẳng hạn như thành trước tim. | Nhồi máu cơ tim thành trước có tiên lượng xấu nhất trong tất cả các vị trí nhồi máu, do diện tích lớn hơn. | Hiện không có dữ liệu nào chứng minh sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ tử vong của nhồi máu cơ tim thành sau với các vị trí khác. | Bệnh này ít phổ biến hơn và tiên lượng nhìn chung có kết quả thuận lợi. |
Giống như các cơn nhồi máu cơ tim khác, tình trạng này thường do xơ vữa động mạch gây ra. Đây là tình trạng mảng bám tích tụ bên trong động mạch vành, làm hẹp lòng động mạch và giảm lưu lượng máu. Nếu mảng bám vỡ ra, có thể hình thành cục máu đông làm tắc nghẽn hoàn toàn động mạch dẫn đến căn bệnh này. Trong hầu hết các trường hợp (khoảng 80%) người bệnh có ST chênh lên thành dưới, nguyên nhân gây bệnh là tắc nghẽn cấp tính động mạch vành phải (RCA). Trong các trường hợp còn lại, mạch máu bị tắc nghẽn là động mạch mũ trái (LCA).
Trong khi tất cả các cơn nhồi máu cơ tim đều liên quan đến tình trạng tắc nghẽn ở một hoặc nhiều động mạch vành, vị trí tắc nghẽn sẽ quyết định phần nào của tim bị ảnh hưởng. Trong trường hợp ở thành dưới, tắc nghẽn thường xảy ra ở động mạch vành phải, động mạch cung cấp máu cho phần dưới của tim. Vị trí tắc nghẽn đặc biệt khiến bệnh lý này khác biệt với thành trước hoặc thành bên, nhưng nó có cùng cơ chế hoạt động như bất kỳ cơn nhồi máu nào khác.
Ngoài ra, một số yếu tố rủi ro cần chú ý có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh lý này như: (2)

Các triệu chứng phổ biến nhất bao gồm:
Thông thường nhồi máu cơ tim thành dưới có tiên lượng tốt hơn so với các vùng khác, chẳng hạn như thành trước tim. Tỷ lệ tử vong của bệnh lý này là dưới 10%. Tuy nhiên một số yếu tố biến chứng có thể dẫn đến tăng tỷ lệ tử vong, bao gồm nhồi máu thất phải (RVMI), hạ huyết áp, nhịp tim chậm, block nhĩ – thất và sốc tim.
Trong đó người bị bệnh ở thành dưới kèm theo nhồi máu cơ tim thất phải có tỷ lệ biến chứng cao hơn nhiều so với người chỉ bị ở thành dưới. Người mắc cả hai tình trạng này có tiên lượng xấu hơn, với nguy cơ xảy ra các biến chứng bao gồm block nhĩ – thất, loạn nhịp nhĩ, hạ huyết áp nặng, nhịp tim chậm và viêm màng ngoài tim.
Điện tâm đồ, chụp mạch vành và siêu âm tim là những phương pháp chẩn đoán bệnh quan trọng.
Điện tâm đồ (ECG/EKG) là một kỹ thuật chẩn đoán y khoa không xâm lấn, ghi lại hoạt động điện của tim. Biểu hiện trên điện tâm đồ phổ biến nhất với nhồi máu cơ tim ở thành dưới là ST chênh lên ở các chuyển đạo II, III và aVF với ST chênh xuống đối ứng ở chuyển đạo aVL. Trên thực tế gần một nửa số cơn mắc bệnh ở thành dưới có liên quan đến thất phải. Để quan sát rõ hơn thất phải, cần sử dụng thêm các điện cực ECG bên phải. Việc này được thực hiện bằng cách đặt các điện cực trước tim ở bên phải ngực. Đặc biệt điện cực V4R giúp phát hiện cơn nhồi máu bên phải tim.



Chụp động mạch vành là một phương pháp sử dụng tia X và thuốc cản quang để kiểm tra mức độ lưu thông máu trong động mạch vành (động mạch tim). Xét nghiệm này có thể cho thấy sự tắc nghẽn hoặc nếu chúng bị hẹp thường là do xơ vữa động mạch. Động mạch vành rất quan trọng vì chúng đưa máu đến cơ tim. Động mạch vành bị tắc nghẽn có thể dẫn đến bệnh.
Đôi khi chụp động mạch vành được thực hiện trong trường hợp khẩn cấp nên người bệnh không có thời gian chuẩn bị. Tuy nhiên khi được lên lịch trước, bạn có thể được bác sĩ hướng dẫn cần chuẩn bị một số điều sau:
Siêu âm tim sử dụng sóng âm để tạo ra hình ảnh của tim, cho thấy lưu lượng máu qua tim và van tim. Người bệnh sẽ nằm nghiêng bên trái trong khi siêu âm. Bác sĩ sẽ dùng một đầu dò (gọi là đầu dò sóng âm) di chuyển qua nhiều vùng trên ngực. Đầu dò sẽ được phủ một lớp gel mỏng để tạo ra hình ảnh rõ nét hơn. Những thay đổi trong sóng âm được gọi là tín hiệu Doppler sẽ cho thấy hướng và tốc độ máu di chuyển qua tim. Ngoài phát hiện xơ vữa động mạch gây bệnh, phương pháp này cũng có thể tìm thấy các vấn đề khác như hở van tim, hẹp van tim, rung nhĩ, viêm màng ngoài tim,…
Bên cạnh đó xét nghiệm máu đo các dấu ấn sinh học tim, chẳng hạn như troponin rất cần thiết để xác nhận bệnh. Nồng độ các protein này tăng cao cho thấy tình trạng tổn thương cơ tim. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp X-quang, chụp CT, chụp MRI,… cũng có thể được thực hiện.

Người bệnh cần được dùng thuốc theo chỉ định, thực hiện các phương pháp cần thiết để tái tưới máu cho phần mô tim thành dưới bị ảnh hưởng. Ngoài ra việc theo dõi sức khỏe và xây dựng lối sống khoa học sau điều trị cũng là điều quan trọng.
Các phương pháp điều trị bao gồm:

Sau giai đoạn điều trị trên, người bệnh sẽ cần được quản lý dài hạn để giảm nguy cơ mắc bệnh và các biến chứng trong tương lai. Điều này thường bao gồm thay đổi lối sống (như bỏ hút thuốc, ăn uống lành mạnh cho tim và tập thể dục thường xuyên) và dùng thuốc để kiểm soát các yếu tố nguy cơ như cao huyết áp, cholesterol cao và tiểu đường.
=> Xem thêm: Nhồi máu cơ tim có phải mổ không?
Như vừa đề cập sau khi điều trị tại bệnh viện, người bệnh cần thực hiện một số biện pháp để kiểm soát bệnh tái phát và cải thiện chất lượng sống. Nhìn chung những yếu tố sau đây làm tăng nguy cơ mắc bệnh một lần nữa:
Vì vậy người bệnh cần thực hiện những điều dưới đây để kiểm soát tốt các yếu tố trên, ngăn ngừa bệnh quay trở lại:
Tóm lại nhồi máu cơ tim thành dưới là một tình trạng nguy hiểm nhưng có thể giảm thiểu hậu quả nếu nhận biết và xử lý kịp thời. Có thể chủ động giảm thiểu rủi ro bằng cách duy trì chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục đều đặn, kiểm soát các yếu tố nguy cơ như rối loạn mỡ máu, cao huyết áp và tiểu đường. Đối với những người trong gia đình, hiểu rõ các triệu chứng, sơ cứu đúng cách và gọi cấp cứu kịp thời đóng vai trò then chốt trong việc cứu sống người bệnh.