Sốc tim trong nhồi máu cơ tim là biến chứng tối cấp có thể đe dọa tính mạng chỉ trong thời gian ngắn nếu không được can thiệp kịp thời. Biến chứng này đứng hàng đầu về tỷ lệ tử vong sau biến cố nhồi máu, phản ánh mức độ tổn thương cơ tim nặng và rối loạn huyết động lan rộng. Bài viết dưới đây của ECO Pharma sẽ giúp bạn hiểu rõ nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh và cách nhận biết sớm dấu hiệu sốc tim, cùng theo dõi để biết chi tiết.

Sốc tim do nhồi máu cơ tim là hậu quả trực tiếp của việc tim không còn khả năng bơm máu đủ để duy trì tưới máu cho các cơ quan quan trọng. Trong nhồi máu cơ tim, nguyên nhân chính gây ra tình trạng này là tắc nghẽn hoàn toàn một nhánh động mạch vành. Khi dòng máu bị cắt đột ngột, vùng cơ tim nuôi dưỡng bởi mạch đó bị hoại tử, lực co bóp giảm mạnh và dẫn đến suy bơm, hạ huyết áp cũng như rối loạn tưới máu toàn thân.
Tại Mỹ sốc tim được ghi nhận ở khoảng 40.000 – 50.000 trường hợp mỗi năm, xuất hiện ở 5 – 10% người bệnh nhồi máu cơ tim. Tình trạng này làm giảm cung lượng tim trầm trọng khiến mô tim rơi vào trạng thái thiếu oxy kéo dài dễ diễn tiến sang suy đa cơ quan. Tiên lượng rất dè dặt với tỷ lệ tử vong gần 40% sau 30 ngày và có thể đạt 50% sau 1 năm.
Những năm gần đây các nghiên cứu cho thấy sốc tim không đơn thuần bắt nguồn từ vùng cơ tim hoại tử (1). Nhiều cơ chế bệnh sinh phức tạp cùng tham gia vào quá trình này, bao gồm:
Như vậy sốc tim trong nhồi máu cơ tim là kết quả của hàng loạt rối loạn đan xen, từ hoại tử cơ tim diện rộng, phản ứng viêm quá mức, bất thường điều hòa mạch máu đến suy đa cơ quan. Bởi có sự tác động đồng thời của nhiều cơ chế khiến biến chứng này rất khó kiểm soát và có nguy cơ tử vong cao, ngay cả khi người bệnh đã được can thiệp từ sớm.
Sốc tim do nhồi máu cơ tim thường xuất hiện khi thất trái bị tổn thương nặng, không còn khả năng tống máu hiệu quả. Khi chức năng bơm giảm, áp lực trong thất trái và mao mạch phổi tăng gây khó thở, thở gấp, giảm oxy trong máu, ran ẩm phổi hoặc xuất hiện tiếng ngựa phi T3 – dấu hiệu sớm của phù phổi cấp. Nếu diễn tiến nhanh người bệnh có thể rơi vào suy hô hấp hoặc suy tim cấp. (2)
Theo thử nghiệm SHOCK thời gian trung vị từ lúc xuất hiện đau thắt ngực đến khởi phát sốc là từ 5 – 6 giờ. Gần 50% số người bệnh rơi vào sốc trong 6 giờ đầu, 74% trong 24 giờ và 26% khởi phát muộn hơn 24 giờ.
Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp gồm:
Đặc biệt hơn ở một ca bệnh huyết áp tâm thu vẫn duy trì ≥ 90 mmHg nhưng có biểu hiện giảm tưới máu thấy rõ. Đây là dạng “sốc tim không hạ huyết áp”, tiên lượng xấu nếu không nhận diện sớm. Trong thực hành lâm sàng mức độ giảm tưới máu và rối loạn ý thức quan trọng hơn con số huyết áp đơn thuần.
Ngoài ra sốc tim do nhồi máu thất phải tuy hiếm gặp nhưng có những dấu hiệu khá đặc trưng. Người bệnh thường trẻ hơn, xuất hiện đau ngực phải từ sớm và có bộ ba biểu hiện là hạ huyết áp, nổi tĩnh mạch cổ nhưng độ bão hòa oxy vẫn ở mức bình thường.

Khi nhồi máu cơ tim tiến triển thành sốc tim hậu quả vô cùng nặng nề, không chỉ dừng ở tụt huyết áp hay rối loạn tuần hoàn. Lúc này tim không thể bơm đủ máu để duy trì tưới máu cho cơ thể khiến nhiều cơ quan bị thiếu oxy trầm trọng. Người bệnh rất nhanh bị hạ huyết áp kéo dài, suy thận cấp (tiểu ít hoặc vô niệu), rối loạn nhận thức, nhiễm toan lactic, rối loạn chức năng gan và suy đa cơ quan. Áp lực trong tim tăng còn dẫn đến tụ dịch phổi gây phù phổi cấp, khó thở và ran ẩm lan tỏa.
Trong thời gian nằm viện người bệnh có nguy cơ gặp thêm nhiều biến chứng nguy hiểm như rối loạn nhịp tim (nhịp nhanh thất, rung thất, block nhĩ thất), vỡ thành tim, đứt cơ nhú, thủng vách liên thất. Giảm tưới máu thận kéo dài cũng khiến không ít trường hợp phải cấp cứu lọc máu.
Tiên lượng của sốc tim trong nhồi máu cơ tim rất dè dặt. Tỷ lệ tử vong trong 30 ngày đầu dao động từ 40 – 50% và có thể đạt 50 – 70% sau 1 năm. Ngay cả những người may mắn sống sót vẫn phải đối mặt với nguy cơ tử vong kéo dài; gần 60% không qua khỏi sau 5 năm. Một nửa số người sống sót phải tái nhập viện trong vòng 12 tháng, thường do suy tim hoặc biến cố mạch vành tái phát. Khoảng 40% người bệnh cần hỗ trợ lâu dài tại nhà như thở oxy hoặc lọc máu định kỳ. (3)
Sốc tim do nhồi máu cơ tim là tình trạng cần cấp cứu khẩn cấp, đòi hỏi chiến lược điều trị đồng bộ để ổn định huyết động, hạn chế tổn thương cơ quan và cải thiện khả năng sống. Khi người bệnh được cấp cứu kịp thời, tỷ lệ hồi phục sẽ khả quan. Tuy vậy tỷ lệ tử vong vẫn cao từ 30 – 50% trong nhiều thử nghiệm lâm sàng, đặc biệt ở nhóm bệnh nặng hoặc đã có tổn thương cơ quan trước khi nhập viện. Kết quả điều trị phụ thuộc vào mức độ hoại tử cơ tim, tình trạng huyết động ban đầu, thời gian tái thông mạch và khả năng xử trí biến chứng. (4)
Trong sốc tim do nhồi máu cơ tim, việc mở lại đúng mạch vành bị tắc bằng can thiệp qua da (PCI) là bước quan trọng nhất để cứu sống người bệnh. Các nghiên cứu cho thấy chỉ cần xử lý mạch gây tắc là đủ; can thiệp thêm những mạch khác quá sớm không giúp giảm tử vong mà còn tăng nguy cơ biến chứng. Vì vậy ưu tiên hàng đầu là tái thông mạch bị tắt càng nhanh càng tốt.
Hỗ trợ huyết động bằng thuốc nhằm duy trì áp lực tưới máu và cung lượng tim.
Khi thuốc không đủ kiểm soát huyết động, các thiết bị hỗ trợ cơ học sẽ được xem xét:
Điều trị tại khoa hồi sức đóng vai trò quyết định, bao gồm tối ưu dịch truyền, hỗ trợ hô hấp – oxy, theo dõi chức năng thận, điều chỉnh rối loạn toan – kiềm, lactate và các chỉ số huyết động. Việc đánh giá liên tục giúp điều chỉnh mức độ hỗ trợ, đảm bảo người bệnh được điều trị tối ưu trong từng giai đoạn.

Sốc tim do nhồi máu cơ tim là biến chứng cực kỳ nguy hiểm, để phòng ngừa cần tập trung vào việc là giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim từ sớm và xử trí nhồi máu kịp thời để giữ lại tối đa cơ tim còn sống.
Khi cấp cứu mục tiêu trọng tâm là tái tưới máu mạch vành càng sớm càng tốt để giới hạn diện hoại tử cơ tim. Vùng tổn thương càng nhỏ, khả năng xuất hiện sốc tim càng thấp.
Can thiệp mạch vành qua da (PCI) cấp cứu: Đây là lựa chọn tối ưu, nên được thực hiện trong 90 – 120 phút kể từ khi chẩn đoán nhằm nhanh chóng phục hồi dòng máu nuôi tim.
Tiêu sợi huyết: Áp dụng khi không thể chuyển người bệnh tới trung tâm có khả năng PCI trong thời gian cho phép (thường vượt quá 120 – 180 phút). Thuốc giúp làm tan cục máu đông, tạo cơ hội tái thông tạm thời trước khi can thiệp sâu.
Hỗ trợ tại bệnh viện:
Vì đa số trường hợp sốc tim trong nhồi máu cơ tim xuất phát từ nhồi máu cơ tim cấp, việc kiểm soát yếu tố nguy cơ tim mạch sẽ giúp hạn chế tối đa bệnh chuyển biến xấu.
Kiểm soát yếu tố nguy cơ mạch vành:
Duy trì lối sống lành mạnh:
Người từng trải qua cơn nhồi máu cơ tim cần có chiến lược chăm sóc toàn diện, bao gồm phục hồi chức năng, dùng thuốc điều trị dài hạn và theo dõi định kỳ để ngăn ngừa tái phát biến cố.
Phục hồi chức năng tim mạch: Tham gia chương trình phục hồi chức năng tim giúp cải thiện sức bền, giảm nguy cơ tái phát biến cố và tỷ lệ tử vong. Nội dung bao gồm các bài tập được giám sát phù hợp với khả năng, hướng dẫn cách thiết lập chế độ dinh dưỡng khoa học và hỗ trợ tâm lý – giáo dục sức khỏe. Người bệnh thường được bắt đầu với các hoạt động nhẹ như đi bộ, đi xe đạp chậm hoặc tập thở phục hồi, sau đó tăng dần cường độ theo hướng dẫn của bác sĩ.
Tuân thủ chỉ định dùng thuốc: Tuân thủ chỉ định dùng thuốc lâu dài là nền tảng sống còn để giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim tái phát:
Dùng thuốc không đều hoặc tự ý bỏ thuốc dễ khiến bệnh tái phát, làm tổn thương cơ tim nặng hơn và dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.
Tái khám và theo dõi định kỳ: Theo dõi định kỳ là yêu cầu bắt buộc đối với người bệnh từng trải qua nhồi máu cơ tim. Việc này nhằm giúp bác sĩ đánh giá diễn tiến bệnh, điều chỉnh phác đồ và phát hiện sớm biến chứng. Các thăm dò quan trọng bao gồm siêu âm tim để đo phân suất tống máu, điện tâm đồ giúp phát hiện rối loạn nhịp, cùng các xét nghiệm đánh giá mỡ máu, HbA1c và chức năng thận. Người bệnh cũng cần theo dõi những dấu hiệu cảnh báo như đau thắt ngực tái phát, khó thở tăng dần, phù chân hoặc mệt mỏi bất thường để được can thiệp y tế kịp thời.
Tại Trung tâm Tim mạch – Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, người bệnh được tiếp cận hệ thống thiết bị hiện đại giúp chẩn đoán và theo dõi tối ưu. Bệnh viện trang bị hệ thống máy đo điện tim 12 chuyển đạo, siêu âm tim đa chế độ, siêu âm tim 3D và siêu âm qua thực quản. Trung tâm còn ứng dụng Holter điện tim 24 giờ, máy đo huyết áp 24 giờ, thảm lăn gắng sức và xe đạp lực kế để thực hiện nghiệm pháp gắng sức đánh giá chức năng tim mạch.
Ngoài ra, hệ thống CT tim – mạch máu và chụp động mạch vành hai bình diện (DSA) còn giúp phát hiện chính xác tổn thương mạch vành và hỗ trợ can thiệp hiệu quả. Toàn bộ quy trình thăm khám, điều trị được thực hiện bởi đội ngũ bác sĩ Tim mạch nhiều kinh nghiệm, áp dụng phác đồ cập nhật từ các Hiệp hội Tim mạch lớn, đảm bảo người bệnh được chăm sóc toàn diện.

Sốc tim trong nhồi máu cơ tim là biến chứng cực kỳ nguy hiểm nhưng hoàn toàn có thể giảm thiểu nếu nhồi máu cơ tim được phòng ngừa, nhận diện sớm và xử trí đúng thời điểm. Điều trị kịp thời, tuân thủ chỉ định dùng thuốc, duy trì lối sống lành mạnh và tái khám định kỳ giúp bảo vệ tim mạch lâu dài và cải thiện tiên lượng sống cho người bệnh.