Trầm cảm đang ngày càng trẻ hóa, ảnh hưởng đến cả thanh thiếu niên và trẻ em – những đối tượng chịu nhiều áp lực từ môi trường học đường. Nắm rõ nguyên nhân, dấu hiệu của trầm cảm học đường có thể giúp trẻ được phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp lúc. Cùng ECO Pharma tìm hiểu chủ đề này trong bài viết dưới đây.

Trầm cảm học đường là một dạng rối loạn tâm thần phổ biến, xảy ra ở trẻ em và thanh thiếu niên độ tuổi đến trường. Những trẻ mắc phải có biểu hiện đặc thù của các chứng trầm cảm. Nhiều yếu tố gây ra trầm cảm học đường nhưng nguyên chính thường do áp lực từ việc học hành, môi trường học tập, không đạt được kỳ vọng của bố mẹ, thầy cô. Nhiều trẻ trầm cảm trong môi trường học đường còn do bị bắt nạt, bạo lực, lạm dụng tình dục, nghiện hút. Dậy thì cũng được biết đến là thời kỳ có nhiều thay đổi về nội tiết, tâm sinh lý của trẻ, có thể gây ra trầm cảm. (1)
Trên toàn cầu, cứ bảy người từ 10 – 19 tuổi thì có một người mắc chứng rối loạn tâm thần, chiếm 13% gánh nặng bệnh tật toàn cầu ở nhóm tuổi này. Tại Việt Nam, một nghiên cứu dựa trên 1296 học sinh ở 2 trường trung học cơ sở tại Hà Nội năm 2021 cho thấy, tỷ lệ trầm cảm chiếm 27%. Nguy cơ trầm cảm ở khối lớp cuối cấp (lớp 8 và 9) cao gấp 1.73 lần so với khối đầu cấp (lớp 6 và 7). Học sinh nữ có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn 1.65 lần so với học sinh nam. Qua đó có thể thấy, trầm cảm trong học đường đang ngày càng phổ biến, không chỉ trên thế giới mà còn ở Việt Nam.
Trầm cảm tuổi học đường gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực, khiến trẻ có tâm lý bi quan, chán nản, buồn bã, tuyệt vọng kéo dài, dễ tức giận, mất hứng thú với những hoạt động từng yêu thích và dần xa cách với gia đình, bạn bè.
Hậu quả của những vấn đề này là ngăn cản sự tận hưởng quá trình học tập, các môn thể thao hoặc sở thích cá nhân, gây tác động tiêu cực đến quá trình phát triển bao gồm thành tích học tập, kỹ năng xã hội và lòng tự trọng. Trong những trường hợp nghiêm trọng, trẻ có thể nảy sinh ý định tự tử. Thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tự tử là nguyên nhân tử vong đứng thứ tư ở nhóm tuổi từ 15 – 29. (2)
Theo WHO, trầm cảm, lo âu và rối loạn hành vi là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật và khuyết tật ở thanh thiếu niên. Hậu quả của việc không giải quyết các tình trạng sức khỏe tâm thần ở thanh thiếu niên kéo dài đến tuổi trưởng thành, làm suy yếu cả sức khỏe thể chất và tâm thần, đồng thời hạn chế cơ hội sống một cuộc sống viên mãn khi trưởng thành. Thanh thiếu niên mắc các bệnh về sức khỏe tâm thần đặc biệt dễ bị xã hội ruồng bỏ, phân biệt đối xử, kỳ thị (ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm sự giúp đỡ), khó khăn trong học tập, hành vi mạo hiểm, sức khỏe thể chất kém và vi phạm nhân quyền.
Nhiều yếu tố gây ra trầm cảm trong học đường. Càng tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ, sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên càng có khả năng bị ảnh hưởng lớn hơn. Các yếu tố có thể góp phần gây căng thẳng trong độ tuổi đến trường bao gồm:
Sự chăm sóc của bố mẹ là yếu tố quan trọng giúp nuôi dưỡng khả năng nhận thức và phi nhận thức của con cái. Việc thiếu sự quan tâm từ các bậc phụ huynh sẽ ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của học sinh, sinh viên bao gồm tình trạng sức khỏe, hành vi hằng ngày và thành tích học tập ở trường, dẫn tới tăng nguy cơ trầm cảm. Một nghiên cứu được thực hiện với 924 sinh viên y khoa Trung Quốc đã cho thấy sự quan tâm của mẹ có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh trầm cảm đáng kể. (3)

Ở lứa tuổi học đường, áp lực thi cử hoặc điểm số khi đối diện với các kỳ thi quan trọng, kỳ vọng của gia đình và bản thân gây ra căng thẳng, có thể dẫn tới các triệu chứng lo âu và trầm cảm. Một số khảo sát tại Việt Nam cho thấy stress và trầm cảm thường gặp nhất ở độ tuổi 14 và 17 – những giai đoạn thi chuyển cấp lên trung học phổ thông và đại học. Điều đáng chú ý là tình trạng này có xu hướng xảy ra ở những học sinh ngoan và khá giỏi.
Những thói quen sinh hoạt không khoa học, phổ biến nhất là chế độ ăn uống mất cân bằng dinh dưỡng, ăn nhiều thức ăn chứa đường và dầu mỡ, thói quen uống nước ngọt, lạm dụng nước tăng lực và cà phê để tỉnh táo trong thời gian ôn tập, thi cử gây ra mệt mỏi, căng thẳng, làm tăng nguy cơ trầm cảm. Thường xuyên thức khuya, nghiện điện thoại thông minh, máy vi tính cũng đã được ghi nhận có thể dẫn đến trầm cảm tuổi học đường. Một đánh giá năm 2023 tại Trung Quốc ở 421 sinh viên cho thấy, lo âu và trầm cảm đều có liên quan đến chứng nghiện điện thoại thông minh ở nhóm người này.
Bạo lực gồm bắt nạt, tấn công trên không gian mạng và bạo lực trên cơ sở giới. Hiện tượng này có thể do học sinh, giáo viên hoặc nhân viên trong nhà trường gây ra, tuy nhiên chủ yếu xuất phát từ các bạn đồng trang lứa. Theo báo cáo của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO), hằng năm trên toàn thế giới khoảng 1 tỷ trẻ em phải đối mặt với bạo lực, bao gồm cả trong và xung quanh trường học. Ước tính trung bình 1 trong 3 học sinh độ tuổi 11 – 15 bị bắt nạt ít nhất 1 lần/tháng. Theo UNESCO, những thanh thiếu niên thường xuyên trải qua bạo lực học đường có nguy cơ mắc chứng lo âu, trầm cảm và ý định tự tử cao hơn.
Những trẻ trong độ tuổi 12 – 15 tuổi có thói quen dùng mạng xã hội hơn 3 tiếng/ngày có nguy cơ đối mặt với trạng thái sức khỏe tâm thần tiêu cực, bao gồm các triệu chứng lo âu và trầm cảm. Khi chán nản, thanh thiếu niên sử dụng mạng xã hội như một cách giải tỏa căng thẳng, tuy nhiên điều này có thể dẫn tới hội chứng tâm lý FOMO (hội chứng sợ bỏ lỡ), cảm giác bị cô lập, không hài lòng, gây ảnh hưởng xấu đến tâm trạng và làm gia tăng nguy cơ trầm cảm học đường.
Trẻ được sinh ra và lớn lên trong gia đình có người thân bị trầm cảm nguy cơ mắc trầm cảm tuổi học đường cao hơn các trẻ khác. Những gia đình như vậy nên chú ý đến con em nhiều hơn, có các biện pháp phù hợp ngăn trầm cảm xảy ra.
Sự phát triển của trẻ trong giai đoạn dậy thì có mối liên quan với chứng trầm cảm. Một nghiên trên 502 thanh thiếu niên (244 nam và 258 nữ) tại Trung Quốc cho thấy, sự phát triển ở tuổi dậy thì có liên quan đến mức độ trầm cảm và căng thẳng tâm lý xã hội bao gồm: suy nghĩ tiêu cực về bản thân, mối quan hệ giữa các cá nhân và áp lực học tập – là những yếu tố góp phần gây ra trầm cảm. Bên cạnh đó, sự khác biệt giới tính cũng là một tác nhân. Học sinh nam thuộc nhóm nghiên cứu phải đối mặt với căng thẳng trong học tập cao hơn so với nữ giới.
Chứng trầm cảm thường nghiêm trọng hơn vào cuối tuổi dậy thì do có sự gia tăng cảm giác tiêu cực về bản thân và mối quan hệ căng thẳng giữa các cá nhân ở độ tuổi này.
Theo khảo sát dựa vào dữ liệu từ Nghiên cứu theo chiều dọc quốc gia về sức khỏe vị thành niên đến người lớn (Mỹ), những đối tượng nam và nữ yêu sớm trong độ tuổi thanh thiếu niên thường bị trầm cảm nhiều hơn so với những người không có mối quan hệ tình cảm. Trong đó, nữ giới có nguy cơ trầm cảm cao hơn nam giới, nguyên nhân do dễ bị tổn thương hơn.

Các dấu hiệu trầm cảm trong học đường ở thanh thiếu niên bao gồm sự thay đổi về cảm xúc và hành vi:
Trẻ em, thanh thiếu niên mắc phải trầm cảm học đường cần có sự quan tâm, đồng hành của các bậc phụ huynh và giáo viên để nhanh chóng ổn định sức khỏe thể chất và tâm lý.
Một số phương pháp điều trị bệnh trầm cảm phổ biến bao gồm:
Tâm lý trị liệu là phương pháp phổ biến để điều trị trầm cảm ở người lớn và trẻ em. Các chuyên gia tâm lý sẽ giúp trẻ hiểu rõ hơn về cảm xúc của mình, hướng dẫn cách giải quyết các vấn đề gây ra căng thẳng, đồng thời phát triển kỹ năng đối phó với áp lực từ cuộc sống học đường. Những liệu pháp thường áp dụng là liệu pháp nhận thức hành vi (CBT), liệu pháp tương tác cá nhân (IPT),…
Đối với trường hợp trầm cảm nặng, bác sĩ có thể chỉ định sử dụng thuốc để điều chỉnh các chất hóa học trong não bộ. Một số thuốc chống trầm cảm được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt dùng cho trẻ em và thanh thiếu niên: Clomipramine (Anafranil) cho trẻ từ 10 tuổi trở lên, Duloxetine (Cymbalta, Drizalma Sprinkle) cho trẻ từ 7 tuổi trở lên, Escitalopram (Lexapro) cho trẻ từ 12 tuổi trở lên, Lurasidone (Latuda) cho trẻ từ 10 tuổi trở lên. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc chỉ được áp dụng khi có sự chỉ định của bác sĩ để giữ an toàn cho trẻ.
Sự quan tâm, lắng nghe và động viên của gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ trẻ vượt qua trầm cảm. Bố mẹ nên tạo môi trường an toàn, thoải mái giúp trẻ dễ dàng chia sẻ cảm xúc và khó khăn mình đang gặp phải. Bên cạnh đó cần tránh gây áp lực về thành tích, điểm số trong việc học tập.

Để cải thiện các triệu chứng trầm cảm, trẻ em và thanh thiếu niên cần được bổ sung một chế độ ăn uống cân bằng dinh dưỡng và lành mạnh. Các thực phẩm giàu vitamin A, vitamin nhóm B, vitamin D, axit béo omega-3 và khoáng chất có lợi cần thiết cho trẻ trong độ tuổi đến trường. Chúng có nhiều trong các loại cá béo (cá cơm, cá hồi, cá ngừ, cá mòi), trứng cá muối, hạt lanh, hạt chia, hạt óc chó, lòng đỏ trứng, sữa, rau chân vịt, việt quất, dâu tây, cam, bông cải xanh, kiwi, cà rốt, cải xoăn, xà lách arugula,…
Bên cạnh đó, cần hạn chế những thực phẩm không lành mạnh có thể ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất và chức năng não bộ của trẻ như đồ ăn vặt công nghiệp, đồ ăn nhiều đường và chất béo, nước ngọt đóng chai, cà phê, đồ chiên rán, món ăn quá mặn hay chứa phẩm màu nhân tạo.
Những hoạt động ngoài trời như đi dạo, đạp xe, chạy bộ, chơi thể thao, học kỹ năng mới hoặc tham gia các hoạt động xã hội có thể giúp trẻ giải tỏa căng thẳng, cải thiện tâm trạng và xây dựng nhiều mối quan hệ hơn. Nhờ đó giảm các triệu chứng trầm cảm học đường hiệu quả.
Nếu các triệu chứng trầm cảm kéo dài và không có dấu hiệu cải thiện, bố mẹ nên đưa trẻ đến gặp chuyên gia tâm lý để được thăm khám và điều trị kịp thời, phòng tránh bệnh trở nên nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển, thậm chí là tính mạng của trẻ.
Trung tâm Khoa học Thần kinh của Hệ thống BVĐK Tâm Anh TP.HCM quy tụ đội ngũ chuyên gia và bác sĩ đầu ngành, giàu kinh nghiệm trong việc điều trị các bệnh thần kinh và rối loạn tâm thần, bao gồm trầm cảm cho cả người lớn và trẻ em. Bệnh viện được trang bị hệ thống thiết bị hiện đại, giúp chẩn đoán và điều trị đa dạng các bệnh lý, chẳng hạn như hệ thống chụp cộng hưởng từ Magnetom Amira Biomatrix (Siemens – Đức), máy chụp CT 768 lát cắt Somatom Drive, máy điện não vi tính EEG-1200K (Nhật Bản), và máy điện cơ Ultra S100 (Mỹ),… Không những thế, BVĐK Tâm Anh TP.HCM là nơi khám chữa bệnh có sự kết hợp nhiều chuyên khoa khác như Khoa Nhi, Khoa Dinh dưỡng tiết chế, Trung tâm Xét nghiệm,… hỗ trợ điều trị trầm cảm tuổi học đường và các triệu chứng liên quan khác cho trẻ một cách toàn diện, cá nhân hóa.
Không chỉ ở các nước phương Tây, trầm cảm học đường hiện cũng phổ biến ở Việt Nam. Mọi trẻ em và thanh thiếu niên cần được quan tâm và kỳ vọng đúng mực, tránh gây áp lực, căng thẳng, cố gắng hạn chế để trẻ tiếp xúc với những yếu tố độc hại dẫn đến trầm cảm. Đặc biệt là thanh thiếu niên sống trong môi trường nhân đạo và dễ bị tổn thương; thanh thiếu niên mắc bệnh mãn tính, rối loạn phổ tự kỷ, khuyết tật trí tuệ hoặc tình trạng thần kinh khác; thanh thiếu niên đang mang thai, cha mẹ là thanh thiếu niên hoặc những người kết hôn sớm hoặc kết hôn ép buộc; trẻ mồ côi; và thanh thiếu niên thuộc nhóm dân tộc thiểu số hoặc nhóm tình dục thiểu số hoặc các nhóm bị phân biệt đối xử khác dễ mắc phải các rối loạn tâm thần. Theo WHO đây là nhóm dễ mắc phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần nhất.