Có 3% dân số thế giới bị nhiễm viêm gan C (do virus HCV gây ra). Trong số 3% đó, HCV-6 (viêm gan C type 6) chiếm tỷ lệ cao bất thường ở Đông Nam Á và các khu vực lân cận. Cùng ECO Pharma tìm hiểu về bệnh và một số vấn đề liên quan trong bài viết sau.

Viêm gan C type 6 được định nghĩa là một trong sáu kiểu gen của virus viêm gan C. Việc xác định là type nào rất quan trọng để xác định phương pháp điều trị phù hợp. Người mắc HCV-6 có các biểu hiện lâm sàng tương tự như bệnh nhân bị nhiễm các kiểu gen khác.
Nhìn chung virus HCV là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng ảnh hưởng đến 170 triệu người trên toàn thế giới. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan, đồng thời là nguyên nhân chính dẫn đến ghép gan trên toàn cầu. (1)
Về đặc điểm virus học, virus viêm gan C là một thành viên của họ Flaviviridae và thuộc chi Hepacivirus. HCV được phân loại thành 6 kiểu gen chính (1-6) và được chia thành nhiều phân nhóm khác nhau được đặt tên theo thứ tự bảng chữ cái từ a đến z. Hiện nay giải trình tự các phân lập HCV đã xác định được hơn 83 phân nhóm từ 6 kiểu gen. Bộ gen giữa các kiểu gen HCV khác nhau khoảng 30% – 35% trong khi bộ gen giữa các phân nhóm khác nhau khoảng 15% – 20%.
Trong đó HCV-6 có tính đa dạng di truyền đáng kể với 23 phân nhóm (từ a đến w). Sự đa dạng di truyền này có thể là kết quả của một thời gian dài lưu hành virus. Ngoài ra việc tiếp xúc virus lặp đi lặp lại thông qua các hoạt động như tiêm chích ma túy có thể dẫn đến việc có nhiều hơn một chủng virus lưu hành trong vật chủ từ đó làm tăng khả năng xảy ra sự tái tổ hợp virus giữa các kiểu gen và chủng HCV lưu hành. Sự biến đổi và tích tụ cao của HCV-6 ở Đông Nam Á cũng củng cố giả thuyết rằng khu vực này có thể là nguồn gốc và trung tâm phân phối toàn cầu của kiểu gen này.

Về đặc điểm dịch tễ học, tỷ lệ lưu hành của các kiểu gen HCV khác nhau tùy theo địa lý. Cụ thể như đã trình bày, HCV-6 phân bố ở Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Việt Nam đã báo cáo tỷ lệ lưu hành HCV-6 là 51% – 54,4% tại Thành phố Hồ Chí Minh và 47,1% ở những nơi khác, với các phân nhóm phổ biến nhất là 6a, tiếp theo là 6e và 6l. Tổng cộng cho đến nay, 12 phân nhóm đã được xác định tại Việt Nam (6a, 6c, 6e, 6f, 6h, 6k, 6l, 6n, 6o, 6p, 6r và 6t). Kiểu gen 6 chiếm khoảng 5% số ca nhiễm trùng toàn cầu nhưng phần lớn chỉ giới hạn ở Đông Nam Á. Đây là kiểu gen chiếm ưu thế ở Việt Nam và chịu trách nhiệm cho khoảng 55% số ca nhiễm HCV. (2)
Đối với các nước lân cận Việt Nam như Lào trong số những người hiến máu, 95.6% mẫu HCV RNA dương tính được phân loại là HCV-6 với nhiều phân nhóm khác nhau được tìm thấy bao gồm 6b, 6h, 6k, 6l, 6n, 6o, 6q và các phân nhóm chưa phân loại. Người ta cũng phát hiện ra rằng HCV-6 là kiểu gen chiếm ưu thế nhất ở những người di cư Campuchia với 52% người mang HCV-RNA có kết quả xét nghiệm dương tính với kiểu gen này. Tương tự như các quốc gia láng giềng, Thái Lan cũng có một số phân nhóm HCV-6 đặc hữu (6b, 6c, 6e, 6f, 6i, 6m và 6n) cùng với các phân nhóm mới (6u và 6v), được tìm thấy ở phía Bắc và Đông Bắc.

HCV là một loại virus RNA sợi đơn, nhân lên chủ yếu trong tế bào gan bằng cách sử dụng cả enzyme của vật chủ và virus. Cơ chế của xơ gan liên quan đến HCV là một quá trình đa chiều. Đối với ung thư gan, quá trình sinh bệnh này do HCV gây ra là một quá trình nhiều bước, có thể kéo dài nhiều năm. Nó liên quan đến sự tích tụ dần dần các biến đổi di truyền khác nhau dẫn đến chuyển dạng ác tính. Một số yếu tố nguy cơ, chẳng hạn như nhiễm virus viêm gan B hoặc đồng nhiễm HIV, béo phì, kháng insulin hoặc viêm gan nhiễm mỡ không do rượu làm tăng cường sự tiến triển của ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) liên quan đến HCV.
Do mới nhiễm virus HCV thường không có triệu chứng nên ít người được chẩn đoán khi nhiễm virus trong giai đoạn đầu. Ở những người bị nhiễm HCV mạn tính, nhiễm virus thường không được chẩn đoán vì không có triệu chứng cho đến nhiều thập kỷ sau khi nhiễm, khi các triệu chứng phát triển thứ phát do tổn thương gan nghiêm trọng.
Nhiễm HCV được chẩn đoán theo hai bước:
Việc xác định kiểu gen HCV là một yếu tố quan trọng cần xem xét để dự đoán phác đồ điều trị hiệu quả. Nên một số phương pháp phân tích kiểu gen khác nhau đã được phát triển để xác định viêm gan C type 6 và các type khác. Các phương pháp này bao gồm giải trình tự axit nucleic trực tiếp, xét nghiệm thăm dò dòng lai ngược (LiPA), phiên mã ngược (RT)-PCR đặc hiệu phân nhóm,…
Sau khi một người được chẩn đoán nhiễm HCV mạn tính, cần tiến hành đánh giá để xác định mức độ tổn thương gan (xơ hóa gan). Việc đánh giá có thể được thực hiện bằng sinh thiết gan, đo cộng hưởng từ đàn hồi (MRE), siêu âm đàn hồi tức thời (transient elastography),…
Viêm gan C có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng. Chẩn đoán và điều trị sớm có thể giúp ngăn ngừa các biến chứng. Bệnh ở giai đoạn cấp tính thường không gây ra biến chứng nghiêm trọng tuy nhiên hơn một nửa số người mắc bệnh ở cấp tính sẽ tiến triển thành mãn tính.
Các biến chứng có thể xảy ra: (3)

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị viêm gan C như độ tuổi, giới tính, chủng tộc, mức độ xơ hóa và nhiễm mỡ của gan. Bên cạnh đó kiểu gen của HCV và tải lượng virus trong cơ thể lúc ban đầu cũng là yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả điều trị. Trong 10 năm qua phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho người nhiễm virus HCV là sự kết hợp giữa pegylated interferon (PEG-IFN) và ribavirin (RBV) với phác đồ từ 24 đến 48 tuần tùy thuộc vào kiểu gen virus của từng cá nhân bị nhiễm.
Riêng đối với hcv genotype 6, dựa trên bằng chứng hiện tại, thời gian điều trị tối ưu HCV-6 bằng pegylated interferon/ribavirin nên là 48 tuần, mặc dù thời gian điều trị rút ngắn còn 24 tuần có thể đáp ứng cho những người có tải lượng virus trước điều trị thấp và đạt được đáp ứng virus học nhanh. Hầu hết các nghiên cứu lâm sàng về hiệu quả của PEG-IFN/RBV đều dựa trên các kiểu gen phổ biến như kiểu gen 1, 2 và 3, trong khi dữ liệu lâm sàng về kiểu gen 6 được tạo ra rất ít.
Năm 2011 các thuốc mới hơn được gọi là thuốc kháng virus tác dụng trực tiếp (DAA) đã được phê duyệt để sử dụng kết hợp với PEG-IFN và RBV để điều trị HCV-1. Tuy nhiên hiệu quả và tính an toàn của DAA trong điều trị bệnh nhân HCV-6 vẫn cần được đánh giá. Nhìn chung HCV-6 có thể được điều trị bằng sofosbuvir kết hợp daclatasvir (SOF/DCV), đây là phác đồ điều trị ít tốn kém nhất trên toàn cầu.
Hiện tại chưa có vắc xin để ngăn ngừa viêm gan virus C. Cách tốt nhất để phòng tránh căn bệnh này là không nên thực hiện những điều sau:
Ngoài ra viêm gan C cũng có thể lây truyền từ mẹ sang con. Nguy cơ lây truyền trong thai kỳ và khi sinh nở thấp, trừ khi người mẹ cũng bị nhiễm HIV. Phụ nữ bị bệnh được khuyến khích cho con bú, trừ khi núm vú bị nứt nẻ.

Viêm gan C type 6 có một số đặc điểm khác biệt cơ bản so với type 1, 2, 3 sau đây:
| Đặc điểm | HCV-1 | HCV-2 | HCV-3 | HCV-6 |
| Khả năng đáp ứng thuốc | Type 1 dễ bị kháng thuốc, sau điều trị dễ tái phát. | Type 2, type3 là nhẹ nhất, ít bị kháng thuốc và ít bị tái phát. | Type 6 tương đối có diễn tiến tốt hơn type 1. | |
| Mức độ phổ biến | Type 1 phổ biến hơn các kiểu gen khác. | Type 2, 3, 6 (và cả type 4, 5) không phổ biến bằng type 1. | ||
| Phân bố | HCV-1 được tìm thấy trên toàn thế giới bao gồm các khu vực phát triển như Bắc Mỹ và Châu Âu. | HCV-2 có tỷ lệ lưu hành cao ở Trung và Tây Phi cũng như một số nước phương Tây. | HCV-3 chủ yếu được tìm thấy ở các nước Viễn Đông và tiểu lục địa Ấn Độ. | HCV-6 được tìm thấy ở Nam Trung Quốc, Đông Nam Á và đôi khi được tìm thấy ở bệnh nhân di cư từ các quốc gia lưu hành bệnh. |
Tóm lại viêm gan C type 6 là một biến thể virus có những đặc điểm riêng biệt cần được quan tâm, đặc biệt là ở các khu vực lưu hành cao như Đông Nam Á như nước ta. Mặc dù y học đã có những tiến bộ trong việc kiểm soát bệnh nhưng việc nâng cao nhận thức cộng đồng, chủ động phòng tránh bệnh vẫn rất quan trọng. Bạn nên thăm khám sức khỏe định kỳ, kết hợp bổ sung bộ đôi tinh chất thiên Wasabia và S. Marianum giúp hỗ trợ phòng ngừa gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan, ung thư gan một cách chủ động.