Phần lớn trẻ em bị viễn thị là do mắt chưa phát triển đầy đủ. Thông thường chỉ phẫu thuật mới có thể đưa cấu trúc mắt viễn thị trở lại trạng thái bình thường nhưng không rõ có thể áp dụng cho trẻ em. Trong bài viết này cùng ECO Pharma tìm hiểu viễn thị ở trẻ em có chữa được không và một số vấn đề quan trọng liên quan.

Viễn thị ở trẻ em là tình trạng mắt của trẻ dễ dàng nhìn thấy các vật ở xa nhưng lại khó khăn khi nhìn những vật ở gần. Đối với tình trạng nặng có thể nhìn mờ tất cả sự vật xung quanh dù ở mọi khoảng cách. Theo một phân tích trên toàn cầu, viễn thị có thể ảnh hưởng đến khoảng 4,6% trẻ em. Tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh chính xác thay đổi tùy theo nghiên cứu vì các nhà khoa học sử dụng các phương pháp khác nhau để tính toán con số. (1)
Ngoài ra cận thị cũng là một tật khúc xạ phổ biến khác ở trẻ em. Tuy nhiên trường hợp bị cận thị và viễn thị trên cùng một mắt là rất hiếm gặp, chỉ chiếm chưa đến 1% tổng số trẻ em và người lớn.
Ở trẻ nhỏ viễn thị có thể được chia làm hai loại chính là:
Nguyên nhân phổ biến gây ra viễn thị ở trẻ là sự phát triển chưa hoàn thiện của mắt. Cụ thể, có thể do nhãn cầu tương đối ngắn hoặc giác mạc phẳng hơn bình thường. Cả hai tình trạng này đều ảnh hưởng đến cách mắt khúc xạ (bẻ cong) ánh sáng để cho phép trẻ nhìn thấy. Cụ thể, giác mạc là lớp ngoài cùng trong suốt của mắt có hình dạng hơi cong, giúp điều chỉnh ánh sáng đi vào mắt theo một góc vừa phải để ánh sáng đến được võng mạc (một lớp mô mỏng ở phía sau mắt). Tuy nhiên nếu giác mạc quá phẳng hoặc khoảng cách giữa trước và sau mắt quá ngắn, ánh sáng đi vào mắt của trẻ nhưng không chạm đến đích (võng mạc). Thay vào đó các tia sáng hội tụ phía sau võng mạc khiến các vật quan sát thấy bị mờ. (2)
Viễn thị ở trẻ thường xuất hiện từ khi sinh ra và có xu hướng di truyền trong gia đình. Điều này có nghĩa là các gen được thừa hưởng từ cha mẹ ruột có thể ảnh hưởng đến việc trẻ có bị viễn thị hay không. Ví dụ một số gen ảnh hưởng đến sự phát triển của mắt, bao gồm cả chiều dài trục nhãn cầu.
Hiệp hội Nhãn khoa Mỹ (AOA) giải thích rằng các yếu tố môi trường, chẳng hạn như suy dinh dưỡng có thể góp phần gây ra viễn thị nhưng không phổ biến bằng cận thị. Nhìn chung viễn thị ở trẻ em thường liên quan đến việc có di truyền trong gia đình hay không.
Nhìn chung phần lớn trẻ em bị viễn thị là do di truyền từ cha mẹ. Tuy nhiên tình trạng này cũng có thể do các vấn đề phát triển trong tử cung hoặc thời thơ ấu. Các tình trạng khác như hội chứng không có mống mắt (Aniridia), hội chứng Fragile X hoặc hội chứng Down và chấn thương ở mắt có thể làm tăng đáng kể nguy cơ mắc chứng viễn thị ở trẻ.
Trẻ em bị viễn thị có thể có các dấu hiệu như:
Trẻ em bị viễn thị có thể có những triệu chứng này và thường xuyên dụi mắt hoặc có vẻ không thích đọc sách. Cảm thấy khó chịu ở mắt hoặc đau đầu sau khi thực hiện các công việc cần nhìn gần trong một thời gian, chẳng hạn như đọc, viết, xem điện thoại, máy vi tính hoặc vẽ.

Tật viễn thị ở trẻ em thường tự khỏi khi trẻ lớn dần và không gây ra vấn đề gì. Tuy nhiên tình trạng này cũng có thể dẫn đến biến chứng nhược thị (mắt lười) hoặc lác mắt (mắt nhìn theo nhiều hướng khác nhau). Theo Học viện Nhãn khoa Mỹ (AAO), chứng lác trong điều tiết (Accommodative esotropia) khởi phát trung bình ở độ tuổi khoảng 2,5, mặc dù nó có thể xuất hiện sớm nhất là 6 tháng tuổi và muộn nhất là 7 tuổi. Lác trong điều tiết có thể là dấu hiệu của chứng viễn thị ở trẻ em.
Khám mắt khi còn nhỏ có thể phát hiện các tật khúc xạ như viễn thị trước khi chúng dẫn đến biến chứng. Ngoài ra viễn thị cũng có thể ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ theo nhiều cách khác nhau như:
Thực tế một nghiên cứu được tiến hành tại Đại học Bang Ohio (Mỹ) và được công bố trên Tạp chí Optometry and Vision Science đã cho thấy nhiều trẻ em bị viễn thị gặp khó khăn trong học tập và có điểm số thấp hơn. Khả năng phối hợp thị giác – vận động (phối hợp tay mắt) của chúng cũng kém hơn khi so sánh với trẻ em không bị viễn thị.
>>> Xem thêm: Độ tuổi viễn thị thường bắt đầu từ khi nào?
Để chẩn đoán viễn thị ở trẻ, bác sĩ sẽ yêu cầu trẻ đọc từ một bảng biểu với các hàng ký hiệu hoặc hình dạng, chẳng hạn như chữ cái. Các ký hiệu sẽ cách nhau khoảng 3 mét và sẽ ngày càng nhỏ dần theo từng dòng. Ban đầu trẻ sẽ đọc bằng cả hai mắt, sau đó nhắm một mắt. Trẻ em dưới 3 tuổi không phải là đối tượng lý tưởng cho cách kiểm tra này vì chúng thường không hợp tác.
Sau đó bác sĩ có thể cần soi võng mạc. Đây là chẩn đoán viễn thị hoặc cận thị bằng cách quan sát sự phản chiếu ánh sáng từ võng mạc của trẻ. Trong quá trình này bác sĩ nhãn khoa sẽ sử dụng máy soi võng mạc để chiếu ánh sáng vào mắt của trẻ.
Vì soi võng mạc không xâm lấn hay gây đau nên con bạn thường không cần gây mê khi thực hiện. Máy đo độ khúc xạ cũng được dùng để đo mức độ chính xác của tật khúc xạ, trong đó có viễn thị.
Bên cạnh đó, bác sĩ có thể sử dụng thuốc nhỏ mắt làm giãn đồng tử để giúp quan sát mắt của trẻ rõ hơn. Từ đó, phát hiện thêm các bệnh lý khác ở mắt (nếu có).

Theo Hiệp hội Nhãn khoa Nhi khoa và Lác mắt Mỹ (AAPOS) trẻ em có tật viễn thị nhẹ là khá phổ biến và khi trẻ lớn lên, nhãn cầu sẽ dài ra và do đó tình trạng viễn thị có thể tự cải thiện. Đối với người trưởng thành, tật viễn thị sẽ không khỏi trừ khi được phẫu thuật. Phương pháp này chỉ được thực hiện cho người đã đủ 18 tuổi trở lên kèm theo một số điều kiện sức khỏe khác. Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) không chấp thuận phẫu thuật mắt bằng laser cho trẻ em dưới 18 tuổi. Ngay cả sau phẫu thuật, thị lực vẫn có thể thay đổi theo thời gian. Đây là một phần tự nhiên của quá trình lão hóa.
Trong một số trường hợp, việc điều trị viễn thị ở trẻ em có thể là dùng kính mắt hoặc kính áp tròng theo chỉ định của bác sĩ. Cụ thể, kính gọng là một phương pháp đơn giản để điều chỉnh tật viễn thị, hoạt động bằng cách thay đổi cách ánh sáng hội tụ trên võng mạc. Mức độ viễn thị của trẻ sẽ quyết định loại tròng kính cần sử dụng và tần suất đeo kính. Kính áp tròng hoạt động giống như kính mắt. Tuy nhiên loại kính này nhỏ hơn tròng kính gọng và nằm trực tiếp trên bề mặt nhãn cầu.
Một điều cần lưu ý, trẻ có thể gặp phải các vấn đề về việc tháo, đeo, vệ sinh và bảo quản kính áp tròng đúng cách dẫn đến nguy cơ bị khô và nhiễm trùng mắt. Vì vậy chỉ sử dụng kính áp tròng khi bác sĩ cho phép, phụ huynh cần hướng dẫn, theo dõi và hỗ trợ trẻ sát sao.
Bạn nên cho trẻ khám mắt sớm, đặc biệt trong trường hợp bạn hoặc người bạn đời của mình bị viễn thị, vì tật khúc xạ này có khuynh hướng di truyền trong gia đình. Ngay cả khi trẻ không có các biểu hiện bất thường về thị lực, việc khám mắt định kỳ vẫn rất quan trọng. Dưới đây là tần suất khám mắt mà trẻ em không có triệu chứng nên thực hiện, theo Hiệp hội Nhãn khoa Mỹ:

Trường hợp trẻ đã được bác sĩ xác định mắc viễn thị, phụ huynh cần đưa trẻ khám mắt định kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ để được theo dõi, kiểm soát tật khúc xạ này tốt hơn. Ngoài ra ba mẹ cũng nên thực hiện những điều sau để bảo vệ thị lực cho trẻ:
Một điều quan trọng khác, cha mẹ hãy tự mình trở thành một hình mẫu tốt. Vì trẻ em thường học tập và bắt chước bố mẹ rất nhiều từ những thói quen, hành động trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy phụ huynh hãy tạo cho mình thói quen sử dụng thiết bị điện tử trong một khoảng thời gian hợp lý, dành nhiều thời gian hơn để chơi, tương tác và trò chuyện cùng con, từ đó cũng giúp cho trẻ ít bị phụ thuộc quá nhiều vào thiết bị điện tử.
Viễn thị ở trẻ em có thể ảnh hưởng đến khả năng học tập và tác động lâu dài đến sự phát triển thị giác. Việc cha mẹ chủ động quan sát các dấu hiệu bất thường và đưa con đi khám mắt định kỳ là vô cùng quan trọng. Trẻ từ 12 tuổi trở lên có thể bổ sung thêm tinh chất Broccophane (chiết xuất từ bông cải xanh Broccoli) cùng Lutein, Zeaxanthin, Omega 3, vitamin A, C, E, kẽm,… giúp bảo vệ tế bào sắc tố võng mạc và thủy tinh thể, làm giảm các triệu chứng như khô, nhức mỏi mắt một cách hiệu quả.