Viêm gan CMV là bệnh hiếm gặp do virus Cytomegalovirus thuộc họ Herpes gây ra. Khác với viêm gan B, C, bệnh thường xuất hiện ở người suy giảm miễn dịch. Tỷ lệ mắc dao động từ 2 – 17% và có thể lên đến 34% ở người ghép gan (1). Viêm gan do CMV thường gây tăng men gan, vàng da, mệt mỏi, trong trường hợp nặng sẽ diễn tiến thành viêm gan tối cấp. Cùng ECO Pharma tìm hiểu chi tiết về căn bệnh này qua bài viết sau.

CMV gây viêm gan thông qua hai cơ chế chính là tổn thương trực tiếp do virus và tăng phản ứng miễn dịch của cơ thể.
Sau khi nhiễm cấp CMV có thể ngủ yên và tái hoạt khi hệ miễn dịch suy yếu như ở người ghép tạng, nhiễm trùng nặng hoặc đang dùng thuốc ức chế miễn dịch.
Trong gan, tế bào nội mô xoang gan (LSECs) đóng vai trò là ổ chứa virus lâu dài giúp CMV phát tán và né tránh phản ứng miễn dịch bằng cách giảm biểu hiện MHC I/II và điều hòa tế bào NK, NKT. Ở người ghép gan CMV ngoài gây ra phản ứng thải ghép còn bị kích thích hoạt động trở lại do sự bùng phát cytokine trong chính quá trình thải ghép. Thuốc ức chế miễn dịch cũng góp phần tạo điều kiện cho virus nhân lên khiến viêm gan do CMV dễ tái phát.
Cytomegalovirus (CMV) là một loại virus DNA sợi đôi thuộc họ Herpesviridae có khả năng tồn tại lâu dài trong cơ thể. Đây là tác nhân gây nhiễm trùng phổ biến, với tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 24 – 100% tăng dần theo độ tuổi. Trẻ em có thể nhiễm virus ngay từ trong bụng mẹ hoặc trong quá trình chăm sóc sau sinh (2).
Tại Mỹ và Canada ước tính cứ 200 trẻ sơ sinh thì có 1 trẻ mắc CMV bẩm sinh. Virus CMV có thể lây truyền qua nước bọt, nước tiểu, máu, sữa mẹ hoặc từ mẹ sang con trong thai kỳ.
Khoảng 90% trẻ mắc CMV bẩm sinh không có biểu hiện rõ ràng khi sinh ra. Tuy nhiên 10% còn lại có thể bị tổn thương đa cơ quan, trong đó thường gặp nhất là gan, phổi và hệ thần kinh trung ương. Đối với trẻ nhiễm CMV sau sinh đa số không có triệu chứng hoặc chỉ biểu hiện nhẹ. Mặc dù vậy viêm gan do CMV vẫn là biểu hiện thường gặp nhất gây ứ mật, vàng da, tăng men gan nhưng một số trẻ có thể kèm theo viêm phổi hoặc hội chứng giống bệnh tăng bạch cầu đơn nhân (mononucleosis-like syndrome) gồm mệt mỏi, sốt nhẹ, khó chịu; nổi hạch cổ, nách sưng; đau cơ, đau khớp nhẹ.
Viêm gan CMV ở trẻ nhỏ đặc biệt là giai đoạn sơ sinh được xem là bệnh lý gan phổ biến và đáng lưu ý. Bệnh có thể khiến chức năng gan suy giảm, ứ mật kéo dài, nếu không được phát hiện và điều trị sớm có thể diễn tiến thành xơ gan, thậm chí đe dọa tính mạng trẻ sơ sinh.

Viêm gan do CMV hình thành khi virus xâm nhập vào cơ thể, lan qua đường máu và tồn tại trong tế bào gan, Kupffer và tế bào nội mô. CMV mang các glycoprotein đặc hiệu giúp chúng bám dính, xâm nhập và nhân lên gây tổn thương tế bào gan. Một số nghiên cứu cho thấy bạch cầu và đại thực bào có thể vận chuyển CMV đến gan hoạt động như “cầu nối” giúp virus phát tán.
Sau giai đoạn cấp tính CMV không bị loại bỏ hoàn toàn mà “ẩn mình” trong các tế bào miễn dịch khi cơ thể suy yếu virus lại tái hoạt động.
Các con đường lây truyền CMV bao gồm:
Biểu hiện của viêm gan do CMV rất đa dạng, tùy theo tuổi, khả năng miễn dịch và giai đoạn nhiễm virus.
Hầu hết trẻ sơ sinh nhiễm CMV trông vẫn khỏe mạnh khi chào đời nhưng một số có thể phát bệnh sớm hoặc xuất hiện triệu chứng muộn trong những tháng đầu đời.
Biểu hiện sớm có thể gồm:
Biểu hiện muộn thường là mất thính lực, chậm phát triển trí tuệ hoặc giảm thị lực tiến triển. Những trẻ mắc bệnh nặng có thể sinh non, bị tổn thương gan kéo dài hoặc xơ hóa gan nếu không được theo dõi, điều trị kịp thời.
Ở nhóm ghép tạng, ghép tủy hoặc nhiễm HIV/AIDS, CMV có thể tái hoạt động mạnh, gây:
Nếu không điều trị sớm bệnh có thể dẫn đến suy gan cấp, vàng da nặng hoặc tổn thương nhu mô gan lan tỏa.
Ở người miễn dịch bình thường nhiễm CMV chỉ xuất hiện các triệu chứng nhẹ như:

Viêm gan CMV thường diễn tiến âm thầm dễ nhầm với các bệnh gan do virus khác. Việc chẩn đoán chính xác cần kết hợp thăm khám lâm sàng, xét nghiệm sinh hóa, huyết học và chẩn đoán hình ảnh. Sau giai đoạn nhiễm cấp người bệnh có thể mệt mỏi, sốt nhẹ trong vài ngày đến vài tuần và thường tự hồi phục mà không để lại di chứng. Tuy nhiên men gan vẫn tăng nhẹ, cần theo dõi để loại trừ các nguyên nhân viêm gan khác.
Viêm gan CMV có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng, nhất là ở người suy giảm miễn dịch, bệnh nhân sau ghép tạng. Tại gan virus CMV có thể xâm nhập trực tiếp vào tế bào gan (hepatocyte) gây viêm gan cấp hoặc mãn tính. Nếu bệnh nặng men gan tăng kéo dài sẽ dẫn đến rối loạn chức năng gan, suy gan cấp hoặc khiến bệnh gan sẵn có như viêm gan mãn, gan nhiễm mỡ, xơ gan nặng hơn.
Ngoài tổn thương tại gan viêm gan do CMV còn có khả năng lan tỏa toàn thân qua đường máu, tấn công nhiều cơ quan khác. Một số người bệnh có thể bị viêm võng mạc CMV gây mờ mắt, giảm thị lực, thậm chí mù lòa. Virus cũng có thể gây viêm phổi hoặc viêm đại tràng dẫn đến suy hô hấp, xuất huyết tiêu hóa. Những biến chứng này có thể đe dọa tính mạng nếu không được kiểm soát tốt.
Đối với phụ nữ mang thai nhiễm CMV trong thai kỳ dễ truyền sang thai nhi gây CMV bẩm sinh. Trẻ sơ sinh mắc bệnh có nguy cơ cao bị mất thính lực, chậm phát triển trí tuệ, vàng da kéo dài hoặc tổn thương gan mãn tính. Ở người ghép tạng CMV là nguyên nhân chính gây đào thải cơ quan ghép và rối loạn miễn dịch. Kết hợp giữa virus đang hoạt động và tác dụng của thuốc ức chế miễn dịch khiến gan bị tổn thương trầm trọng hơn, thậm chí dẫn đến suy gan cấp nếu không được can thiệp kịp thời.

Điều trị viêm gan do CMV phụ thuộc vào tình trạng miễn dịch và mức độ tổn thương gan của mỗi người.
Hầu hết các trường hợp nhiễm CMV nhẹ, không triệu chứng đều không cần điều trị. Cơ thể có thể tự kiểm soát virus, men gan sẽ trở lại bình thường sau vài tuần. Lúc này người bệnh được khuyến nghị nghỉ ngơi, bổ sung dinh dưỡng hợp lý và tránh dùng thuốc gây độc cho gan.
Đây là nhóm nguy cơ cao thường cần điều trị bằng thuốc kháng virus đặc hiệu để ngăn biến chứng nặng. Có hai chiến lược chính:
Hai loại thuốc chính được sử dụng là Ganciclovir và Valganciclovir.
Trong quá trình điều trị người bệnh cần được theo dõi định kỳ công thức máu, men gan và chức năng thận để phát hiện sớm tác dụng phụ khi dùng thuốc lâu ngày. Việc uống thuốc kháng virus phải được chỉ định và giám sát chặt chẽ bởi bác sĩ chuyên khoa nhằm đảm bảo hiệu quả và an toàn tuyệt đối.
Bệnh viêm gan CMV có thể phòng ngừa bằng những cách sau:
Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sạch sau khi tiếp xúc với dịch cơ thể hoặc làm việc trong môi trường y tế. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, máu, nước tiểu, tinh dịch hoặc sữa mẹ của người nhiễm CMV.
Vật dụng cá nhân và thiết bị y tế cần được làm sạch, khử khuẩn định kỳ, nhất là tại bệnh viện, nhà trẻ, khu vực đông người để giảm lây nhiễm khi tiếp xúc gián tiếp.
Xét nghiệm sàng lọc CMV định kỳ giúp phát hiện sớm virus đang hoạt động hoặc tiềm ẩn, đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ mang thai, người ghép tạng và suy giảm miễn dịch. Các phương pháp thường dùng gồm PCR định lượng CMV DNA và xét nghiệm kháng thể IgM, IgG. Phát hiện sớm cho phép can thiệp kịp thời giúp bảo vệ chức năng gan và ngăn biến chứng nguy hiểm.
Ở phụ nữ mang thai nhiễm CMV có thể dẫn đến sảy thai, thai chết lưu, dị tật bẩm sinh hoặc tử vong sơ sinh. Để chẩn đoán nhiễm CMV ở thai nhi bác sĩ có thể chỉ định chọc ối sau 18 tuần thai nhằm phát hiện virus trong nước ối. Mặc dù khoảng 80% trẻ nhiễm CMV không biểu hiện triệu chứng khi sinh nhưng vẫn cần theo dõi sát sau sinh vì trẻ có thể xuất hiện vàng da, gan lách to, rối loạn thần kinh, giảm thính lực, thị lực về sau.
Phụ nữ mang thai nên thực hiện sàng lọc CMV tại các cơ sở y tế uy tín như Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, nơi có hệ thống xét nghiệm chuyên sâu, đảm bảo an toàn cho mẹ và thai nhi; Đồng thời nên khám sức khỏe tiền hôn nhân hoặc tiền thai kỳ, gồm:
Khám định kỳ giúp phát hiện sớm bất thường, từ đó có hướng điều trị, chăm sóc phù hợp.
Đối với nhóm có nguy cơ cao bác sĩ có thể theo dõi tải lượng CMV định kỳ và chỉ định dự phòng bằng thuốc kháng virus (như Ganciclovir, Valganciclovir) để ngăn ngừa tái phát. Việc dùng thuốc phải tuân thủ hướng dẫn y khoa, không tự ý uống nhằm tránh kháng thuốc gây độc tính lên gan – thận.
Đối với nhóm nguy cơ cao như phụ nữ mang thai cần giữ vệ sinh cá nhân, tránh tiếp xúc với người nghi nhiễm hoặc dịch cơ thể của họ để phòng CMV bẩm sinh cho thai nhi. Người ghép tạng, nhiễm HIV/AIDS cần theo dõi định kỳ tải lượng virus, đánh giá chức năng miễn dịch và dùng thuốc kháng virus dự phòng theo hướng dẫn bác sĩ để ngăn CMV tái hoạt động.

Viêm gan CMV là bệnh lý phức tạp nhưng có thể kiểm soát hoặc phòng ngừa hiệu quả nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách. Việc giữ vệ sinh cá nhân, khám sàng lọc định kỳ, tuân thủ điều trị và chăm sóc gan hợp lý sẽ giúp ngăn ngừa biến chứng, bảo vệ chức năng gan và nâng cao chất lượng sống.