Hội chứng giấc ngủ kinh hoàng chỉ xảy ra ở khoảng 1% – 5% trẻ em và khoảng 1% – 2% ở người trưởng thành. Tình trạng này dẫn đến mệt mỏi vào ban ngày, góp phần gây ra lo âu và trầm cảm. Cùng ECO Pharma tìm hiểu về chứng này trong bài viết sau.

Hội chứng giấc ngủ kinh hoàng hay hoảng sợ khi ngủ là một dạng rối loạn giấc ngủ gây tỉnh giấc đột ngột trong trạng thái sợ hãi tột độ. Thuật ngữ tiếng Anh của nó là sleep terrors hoặc night terrors nhưng sleep terrors được ưa dùng hơn vì chứng sợ hãi có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong suốt 24 giờ khi ngủ.
Sleep terrors thường xảy ra trong vòng một đến ba giờ sau khi bắt đầu ngủ, tức là trong phần ba đầu tiên của giấc ngủ và kéo dài từ vài giây đến vài phút hoặc lâu hơn. Trong cơn kinh hoàng người bệnh có thể ngồi bật dậy, la hét, thậm chí nhảy khỏi giường ở trạng thái nửa tỉnh nửa ngủ. Đáng chú ý là họ rất khó để tự trấn an hoặc thức dậy hoàn toàn; ngay cả khi cơn hoảng loạn kết thúc cũng không nhớ rõ được những gì đã xảy ra. (1)
Hội chứng giấc ngủ kinh hoàng phổ biến hơn ở trẻ em từ 4 đến 12 tuổi và ít xảy ra ở người lớn. Ở trẻ em loại rối loạn giấc ngủ này ảnh hưởng đến trẻ nhỏ nhiều hơn và thường sẽ hết khi bước vào tuổi thiếu niên (2). Một đứa trẻ có thể bị sợ hãi ban đêm vài lần một tháng hoặc vài lần một tuần gây ảnh hưởng đến giấc ngủ của cha mẹ và người chăm sóc. Khi cơn hoảng loạn xảy ra sẽ rất khó để trấn an trẻ, thậm chí những nỗ lực này có thể khiến cơn hoảng loạn nghiêm trọng hơn. Những trẻ bị hoảng loạn ban đêm có nguy cơ bị mộng du cao hơn.
Ở người lớn tỷ lệ mắc thấp hơn nhưng có thể nghiêm trọng hơn so với trẻ em. Ví dụ việc vùng vẫy mạnh khỏi giường có thể dẫn đến thương tích; hoặc có thể là dấu hiệu của một vấn đề sức khỏe tiềm ẩn chẳng hạn như chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), rối loạn lo âu hoặc vấn đề sức khỏe tâm thần khác.
Hội chứng giấc ngủ kinh hoàng và ác mộng đều gây sợ hãi trong lúc ngủ nhưng chúng không phải là một. Ác mộng xảy ra trong giấc ngủ REM, người bệnh có thể tự thức dậy và nhớ rõ được giấc mơ; trong khi hội chứng giấc ngủ kinh hoàng xảy ra trong giấc ngủ NREM, người bệnh hoảng loạn, không tỉnh táo và không nhớ gì sau khi tỉnh dậy. (3)
Nghiên cứu cho thấy tình trạng này xảy ra khi ý thức của người bệnh bị mắc kẹt giữa giai đoạn ngủ sâu và trạng thái tỉnh táo. Đó là lý do tại sao người khác khó có thể đánh thức họ dậy.
Triệu chứng của hội chứng giấc ngủ kinh hoàng thường có biểu hiện:

Nguyên nhân gây ra hội chứng giấc ngủ kinh hoàng vẫn chưa được biết rõ nhưng các yếu tố phát triển (trưởng thành), tâm lý, hữu cơ, môi trường và di truyền đã được xác định là nguyên nhân tiềm tàng. Nhìn chung các sự kiện bên ngoài hoặc bên trong đều có thể gây ra sự tỉnh giấc thường từ giai đoạn ngủ NREM ba hoặc bốn dẫn đến chứng sợ hãi khi ngủ. (4)
Các yếu tố nguy cơ cụ thể như:
Ngoài ra còn có các yếu tố làm tăng tần suất của chứng giấc ngủ kinh hoàng gồm uống quá nhiều caffeine hoặc rượu, môi trường ngủ ồn ào, hoạt động thể chất quá mức, mệt mỏi, căng thẳng cảm xúc, lo lắng chia ly, đau đầu thường xuyên, bệnh sốt, bàng quang đầy khi ngủ, bị bắt nạt, thiếu ngủ, lo lắng, rối loạn tự kỷ, rối loạn tăng động giảm chú ý, động kinh, hội chứng ngưng thở khi ngủ, hội chứng chân không yên, cử động chân tay định kỳ và hội chứng sau chấn thương.
Mặc dù hội chứng này không gây nguy hiểm trực tiếp nhưng có thể dẫn đến nguy cơ chấn thương vì vùng vẫy, nhảy khỏi giường trong cơn hoảng loạn có thể té ngã hoặc va đập. Các chấn thương chỉ là trầy xước, bầm tím nhưng cũng có thể nghiêm trọng hơn như gãy xương, chảy máu đầu và bất tỉnh.
Ngoài ra người bệnh có thể phải đối diện với các nguy cơ khác như:

Khi hội chứng giấc ngủ kinh hoàng xảy ra đặc biệt ở trẻ em, không nên đánh thức họ. Việc lớn tiếng, cố trấn an bằng cách giữ chặt, lắc người hay dỗ dành có thể làm người bệnh thêm hoảng sợ, kích động và khó chịu hơn.
Thay vào đó nên làm những điều sau:
Cách đảm bảo an toàn cho người bị chứng giấc ngủ kinh hoàng:
Tóm lại khi hội chứng giấc ngủ kinh hoàng xảy ra cách tiếp cận tốt nhất là giữ an toàn và không can thiệp quá mạnh, không cố gắng đánh thức người bệnh giữa cơn hoảng loạn.
Để chẩn đoán hội chứng giấc ngủ kinh hoàng bác sĩ sẽ dựa vào nhiều yếu tố, chủ yếu thông qua khai thác thông tin và đánh giá lâm sàng. Bác sĩ sẽ tìm hiểu về các biểu hiện khi ngủ, tần suất xảy ra cơn kinh hoàng, các yếu tố kích hoạt (nếu có) và tiền sử bệnh tâm thần hoặc thần kinh. Trong nhiều trường hợp thông tin từ cha mẹ, người thân hoặc người ngủ cùng là rất quan trọng vì người bệnh thường không nhớ những gì đã xảy ra.
Một số xét nghiệm có thể được bác sĩ chỉ định:

Thông thường các cơn hoảng loạn sẽ tự chấm dứt sau vài phút mà không cần can thiệp. Hiện chưa có phương pháp điều trị cụ thể nào có thể chấm dứt chứng giấc ngủ kinh hoàng cho tất cả mọi người. Trong một số trường hợp bác sĩ có thể kê đơn thuốc khi các cơn hoảng loạn xảy ra thường xuyên và dễ gây thương tích. Thuốc điều trị các bệnh lý kèm theo đặc biệt là các rối loạn lo âu cũng có thể được kê đơn. Nhìn chung việc sử dụng thuốc chỉ được áp dụng khi đã áp dụng tất cả những phương pháp khác nhưng không có hiệu quả.
Đối với cả trẻ em lẫn người lớn việc ngủ đủ giấc, tránh các chất kích thích, điều trị các vấn đề sức khỏe liên quan,… sẽ góp phần làm giảm nguy cơ giấc ngủ kinh hoàng.

Chứng giấc ngủ kinh hoàng thỉnh thoảng xảy ra thường không đáng lo ngại đặc biệt ở trẻ nhỏ vì thường sẽ tự hết khi lớn lên. Việc thăm khám chuyên khoa chỉ cần thiết trong các trường hợp sau:
Tóm lại hội chứng giấc ngủ kinh hoàng có thể gây ra những khoảnh khắc đáng sợ và lo lắng cho cả người trong cuộc lẫn người thân. Mặc dù phần lớn sẽ tự biến mất khi trưởng thành nhưng trong giai đoạn xảy ra nó có thể làm tăng nguy cơ mắc phải chứng đau nửa đầu, trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác. Vì vậy cần có biện pháp phòng ngừa hoặc điều trị nếu đã mắc phải.