Một số loại thuốc gây sạm da thông qua cơ chế kích thích sản sinh melanin hoặc làm da tăng khả năng nhạy cảm với ánh sáng. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ nhóm thuốc uống gây sạm da và cách phòng ngừa tình trạng này. Cùng ECO Pharma tìm hiểu ngay.

Một số nhóm thuốc điều trị bệnh có thể gây sạm da nhưng không phải ở tất cả mọi người. Cơ chế gây sạm da của chúng là tạo ra phản ứng viêm cấp hoặc mạn tính dẫn đến tăng sắc tố sau viêm; hoặc kích thích tế bào melanocyte làm tăng tổng hợp melanin. Ngoài ra sự lắng đọng trực tiếp của thuốc hoặc các chất chuyển hóa của thuốc trong lớp thượng bì hoặc trung bì cũng gây ra sạm da. Về mặt mô bệnh học các thay đổi thường không đặc hiệu và thay đổi tùy theo cơ chế sạm da. (1)
Các nhóm thuốc làm sạm da bao gồm:
Một số thuốc kháng sinh có thể gây tăng sắc tố da khi sử dụng kéo dài và tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời vì tia cực tím (UV) có khả năng kích thích sản xuất melanin quá mức. Các loại thuốc kháng sinh như doxycycline, ciprofloxacin hoặc sulfonamide có thể gây ra phản ứng viêm da nhẹ sau đó là tăng sắc tố sau viêm dẫn đến sạm da.
Thuốc chống viêm như ibuprofen, naproxen, diclofenac hoặc piroxicam có thể gây sạm da ở một số trường hợp do tăng nhạy cảm với nắng mặt trời. Đầu tiên chúng gây viêm nhẹ sau đó sẽ xảy ra tăng sắc tố sau viêm dẫn đến các mảng da sạm màu.
Uống thuốc gây sạm da thường biểu hiện dưới dạng các mảng màu nâu đỏ hoặc xám sẫm ở môi, bàn tay, bàn chân hoặc vùng sinh dục. Một điểm dễ nhận thấy là các vết sạm có thể xuất hiện lại đúng vị trí cũ khi dùng lại cùng loại thuốc. Nếu không bảo vệ da khỏi ánh nắng tình trạng sạm da có thể đậm màu hơn và kéo dài ngay cả sau khi đã ngừng thuốc.
Bên cạnh tác dụng điều trị sốt rét thuốc điều trị sốt rét còn có đặc tính kháng viêm và điều hòa miễn dịch nên thường được sử dụng trong các bệnh tự miễn như lupus ban đỏ hệ thống và viêm khớp dạng thấp. Những thuốc chống sốt rét dễ gây rối loạn sắc tố da bao gồm chloroquine, hydroxychloroquine, amodiaquine và quinacrine. (2)
Khoảng 25% người sử dụng các thuốc này từ 4 tháng trở lên có thể xuất hiện sắc tố xanh xám hoặc tím trên da. Thuốc gây sạm da thường gặp ở vùng trước cẳng chân nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến giường móng, mặt, tai và niêm mạc miệng, đặc biệt là vòm miệng cứng.
Ban đầu tổn thương là các đốm nhỏ, ranh giới rõ sau đó có thể lan rộng thành mảng. Các khảo sát mô học cho thấy sự gia tăng tăng melanin ở thượng bì kèm theo lắng đọng hemosiderin ở lớp bì. Những thay đổi sắc tố do thuốc chống sốt rét gây ra thường có khả năng hồi phục; sau khi ngừng thuốc màu da có thể nhạt dần theo thời gian và thường trong vòng vài tháng.
Riêng quinacrine có thể gây đổi màu da vàng nhạt, đôi khi lan đến kết mạc mắt và niêm mạc miệng dễ bị nhầm với vàng da. Tình trạng này liên quan đến đặc tính nhuộm màu của thuốc, thường giảm dần trong vòng 1 – 4 tháng sau khi ngừng sử dụng.
Các thuốc hóa trị ung thư có thể gây nhiều tác dụng phụ trên da, trong đó thường gặp là nhạy cảm ánh nắng và tăng sắc tố da, móng tay hoặc niêm mạc. Biểu hiện rối loạn sắc tố có thể khác nhau tùy từng thuốc, với màu sắc và hình thái tổn thương không giống nhau.
Cơ chế gây tăng sắc tố do hóa trị chưa được hiểu rõ hoàn toàn nhưng được cho là liên quan đến kích thích trực tiếp quá trình sản xuất melanin hoặc tăng sắc tố sau viêm do tổn thương tế bào sừng. Các thuốc có thể gây thay đổi sắc tố da gồm bleomycin, busulfan, doxorubicin (adriamycin), daunorubicin, fluorouracil, cyclophosphamide, carmustine và docetaxel.
Bleomycin có thể gây tăng sắc tố da dưới dạng sạm da lan tỏa hoặc khu trú đôi khi kèm ngứa, dải sắc tố móng hoặc vệt sắc tố dạng vệt dài; 5-Fluorouracil (5-FU) có thể gây nhạy cảm ánh nắng sau đó dẫn đến tăng sắc tố ở vùng da phơi nắng quanh vị trí truyền thuốc hoặc dọc theo tĩnh mạch truyền; Doxorubicin có thể gây đốm sắc tố ở niêm mạc miệng thường gặp ở hai bên lưỡi; Hydroxyurea, zidovudine có thể gây tăng sắc tố móng tay (giường móng, lunula) và lưỡi; Pemetrexed có thể gây sạm da ở lòng bàn tay và bàn chân; Thuốc ức chế thụ thể EGFR có thể gây giãn mạch da sau khi lành để lại tăng sắc tố, thường gặp ở vùng mặt, đôi khi dễ nhầm với mụn hoặc rosacea.

Một số thuốc kháng retrovirus dùng trong điều trị HIV/AIDS cũng có thể gây ra thay đổi sắc tố da. Zidovudine là hoạt chất có thể gây thay đổi màu sắc móng tay mang tính hồi phục; trong một số trường hợp nó cũng gây tăng sắc tố màu nâu ở da hoặc niêm mạc. Các thay đổi ở móng tay cụ thể bao gồm móng chuyển màu xanh lan tỏa hoặc xuất hiện các dải sắc tố chạy dọc hay ngang, thường bắt đầu từ phần gốc móng.
Ngoài ra emtricitabine cũng là một thuốc kháng virus khác được ghi nhận có thể gây tăng sắc tố da. Tỷ lệ gặp tác dụng này khoảng 8% ở người Mỹ gốc Phi và 4% ở người châu Á. Các vùng da tăng sắc tố thường không gây triệu chứng, chủ yếu xuất hiện ở các chi xa như bàn tay hoặc bàn chân.
Về mặt mô học các tổn thương da tăng sắc tố cho thấy sự lắng đọng melanin tăng lên ở lớp đáy của biểu bì, đồng thời có mặt melanin trong các tế bào đại thực bào ở lớp bì. Tình trạng đổi màu da và móng này thường giảm dần và có thể hồi phục sau khi ngừng thuốc.
Thuốc điều trị tâm thần, thần kinh được dùng trong điều trị các rối loạn tâm thần, rối loạn cảm xúc và động kinh. Một số thuốc trong nhóm này có thể gây thay đổi sắc tố da như tác dụng không mong muốn với mức độ khác nhau tùy loại thuốc, liều dùng và thời gian điều trị.
Thuốc chống loạn thần có thể gây tác dụng phụ trên da ở khoảng 5% bệnh nhân, trong đó thường gặp nhất là tăng sắc tố tiến triển màu xám đá phiến hoặc xanh xám tại các vùng da tiếp xúc ánh nắng. Nhóm thuốc liên quan nhiều gồm phenothiazine, đặc biệt là chlorpromazine có thể gây đổi màu tím ở mặt và các chi, đôi khi ảnh hưởng đến giường móng và phần hở của mắt. Rối loạn sắc tố thường xuất hiện khi dùng liều cao kéo dài và có xu hướng mờ dần khi chuyển sang thuốc an thần kinh khác.
Thuốc chống trầm cảm ba vòng nhất là imipramine và desipramine cũng được ghi nhận gây tăng sắc tố xanh hoặc xám đá phiến ở vùng da phơi nắng. Mô bệnh học cho thấy các phức hợp thuốc – melanin lắng đọng trong lớp bì. Việc ngừng thuốc và thay thế bằng thuốc chống trầm cảm khác thường giúp cải thiện tình trạng đổi màu da, và một số trường hợp có thể đáp ứng với điều trị laser.
Thuốc chống động kinh nhìn chung hiếm khi gây rối loạn sắc tố da. Tuy nhiên ezogabine (retigabine), thuốc điều trị động kinh cục bộ ở người lớn đã được ghi nhận gây đổi màu xanh xám ở da và niêm mạc ảnh hưởng đến mặt, môi, vòm miệng cứng, kết mạc và móng tay.
Thuốc tránh thai đường uống chứa estrogen và progesterone thường liên quan đến sự xuất hiện của nám da (melasma) ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Tương tự liệu pháp hormone thay thế (HRT) cũng có thể làm khởi phát hoặc làm nặng thêm tình trạng tăng sắc tố da.
Estrogen và progesterone có khả năng làm tăng hoạt động của tế bào melanocyte từ đó thúc đẩy quá trình tổng hợp melanin và hình thành các mảng tăng sắc tố nâu phân bố đối xứng thường gặp ở vùng má, trán và môi trên.
Bên cạnh các nhóm thuốc thường gặp một số thuốc sử dụng trong những chỉ định điều trị bệnh cũng có thể gây đến sạm da. Cụ thể:

Sạm da do thuốc là một tác dụng không mong muốn có thể gặp khi sử dụng thuốc tây. Tuy nhiên tình trạng này không hoàn toàn làm da đen vĩnh viễn. Trong một số trường hợp sắc tố da có xu hướng giảm dần sau khi ngừng dùng thuốc, đặc biệt nếu nguyên nhân do kích thích tạm thời hoạt động của tế bào melanocyte.
Thời gian cải thiện màu da sau khi ngừng thuốc có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng tùy thuộc vào cơ chế gây tăng sắc tố và đặc tính của từng loại thuốc. Nếu sắc tố chỉ nằm ở lớp thượng bì khả năng hồi phục thường tốt hơn. Ngược lại trong một số trường hợp hiếm gặp khi thuốc hoặc phức hợp thuốc – melanin lắng đọng sâu trong lớp bì, tình trạng tăng sắc tố có thể tồn tại lâu hơn và hồi phục chậm, thậm chí không trở lại như ban đầu.
Da vẫn có khả năng tự sáng lại sau khi ngừng thuốc nếu nguyên nhân gây sạm da là tạm thời và người bệnh kết hợp bảo vệ da phù hợp, đặc biệt là tránh ánh nắng mặt trời. Tuy nhiên đối với các trường hợp tăng sắc tố do lắng đọng thuốc hoặc kim loại, quá trình cải thiện có thể kéo dài và cần theo dõi của bác sĩ chuyên khoa.
Da xuất hiện sạm màu sau một thời gian dùng thuốc uống có thể là phản ứng không mong muốn liên quan đến thuốc đang sử dụng. Mức độ ảnh hưởng tùy thuộc vào từng loại thuốc, liều dùng và thời gian điều trị. Dưới đây là cách khắc phục tình trạng uống thuốc bị sạm da.
Trong điều trị sạm da do thuốc cần xác định thuốc nghi ngờ liên quan và cân nhắc ngừng thuốc nếu cần. Ở nhiều trường hợp việc ngưng thuốc có thể giúp sắc tố giảm dần hoặc cải thiện theo thời gian.
Tuy nhiên đối với các bệnh lý nặng như lao, HIV, ung thư hoặc rối loạn tâm thần nặng, việc ngừng thuốc thường không khả thi. Khi đó bác sĩ có thể cân nhắc điều chỉnh liều xuống mức thấp nhất vẫn còn hiệu quả, thay thế bằng thuốc khác ít nguy cơ gây rối loạn sắc tố hơn, hoặc đánh giá lại toàn bộ phác đồ điều trị nếu tình trạng sạm da ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.
Người bệnh không nên tự ý ngưng thuốc điều trị bệnh mạn tính vì có thể gây rủi ro nghiêm trọng. Mọi quyết định thay đổi thuốc cần được trao đổi và theo dõi bởi bác sĩ điều trị.
Việc bảo vệ da trước ánh nắng mặt trời giúp hạn chế tình trạng thuốc gây sạm da tiến triển nặng hơn. Tia cực tím (UV) không chỉ kích thích tăng sản xuất melanin mà còn có thể làm nặng thêm các rối loạn sắc tố liên quan đến thuốc. Đặc biệt một số thuốc như amiodarone, phenothiazines và tetracycline có thể gây nhạy cảm ánh sáng khiến da phản ứng mạnh hơn khi tiếp xúc với nắng.
Do đó các biện pháp chống nắng nên được duy trì hằng ngày, bao gồm sử dụng kem chống nắng phổ rộng và thoa lại mỗi 2 giờ khi ra ngoài; kết hợp trang phục che chắn như áo dài tay, mũ rộng vành, kính râm; đồng thời hạn chế ra nắng gắt trong khoảng 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều.
Nếu sạm da kéo dài sau khi đã ngừng thuốc các phương pháp điều trị tại cơ sở da liễu có thể được cân nhắc. Các lựa chọn gồm:
Để thăm khám và điều trị sạm da đặc biệt là sạm da do thuốc, người bệnh có thể lựa chọn Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Tại đây chuyên khoa Da liễu – Thẩm mỹ Da được đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, ứng dụng các công nghệ hiện đại cùng đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm trong chẩn đoán và xử trí các rối loạn sắc tố da phức tạp.
Người bệnh được đánh giá nguyên nhân sạm da bằng hệ thống soi da và phân tích da chuyên sâu từ đó xây dựng phác đồ điều trị cá thể hóa, đặc biệt phù hợp với các trường hợp sạm da liên quan đến thuốc điều trị dài ngày. Các phương pháp điều trị nổi bật bao gồm laser Pico cho nám, đốm nâu, laser CO2 fractional cho tổn thương da kèm theo, điện di ion, lăn kim chuyên biệt, và tiêm HA hỗ trợ phục hồi – trẻ hóa da giúp cải thiện sắc tố da một cách an toàn, khoa học và có kiểm soát y khoa.

Phòng ngừa sạm da do thuốc không đồng nghĩa với việc ngừng hoặc từ chối điều trị, mà là quá trình theo dõi và quản lý phù hợp trong suốt thời gian dùng thuốc nhằm hạn chế tác dụng không mong muốn trên da.
Thuốc gây sạm da là một tác dụng không mong muốn có thể gặp trong quá trình điều trị bằng nhiều nhóm thuốc khác nhau. Mức độ và biểu hiện sạm da phụ thuộc vào loại thuốc, liều dùng, thời gian sử dụng và cơ địa của từng người. Tình trạng này có thể cải thiện được nếu xác định đúng nguyên nhân, điều chỉnh thuốc phù hợp và kết hợp chăm sóc da hợp lý.