Cận thị nặng khiến thị lực giảm mạnh và sinh hoạt trở nên khó khăn, đặc biệt là khi ở mức cận 13 độ. Nhiều người băn khoăn liệu mắt cận rất cao có thể mổ để giảm phụ thuộc kính hay không và phương pháp nào an toàn nhất. Những thông tin dưới trong bài viết sau đây, ECO Pharma có thể giúp bạn hiểu rõ cận 13 độ có mổ được không và các phương pháp điều trị phù hợp.

Theo Viện Hàn lâm Nhãn khoa Mỹ, cận thị cao được định nghĩa là tình trạng phải điều chỉnh kính từ – 6,00 Diop (6 độ) trở lên và đôi khi được gọi là cận thị thoái hóa hoặc cận thị bệnh lý. Mức cận 13 độ được xem là cận thị rất nặng, vượt xa nhóm cận thị cao thông thường và tiến gần hơn đến bệnh lý liên quan đến cấu trúc nhãn cầu. Ở mức cận này trục nhãn cầu đã kéo dài quá mức làm thị lực giảm sâu, người bệnh hầu như không thể nhìn rõ ở mọi khoảng cách. (1)
Theo Viện Nghiên cứu Cận thị Quốc tế, cận thị nặng có thể gây kéo dài trục nhãn cầu, giãn củng mạc và thoái hóa hắc, võng mạc vùng cực sau, làm tăng nguy cơ tổn thương đáy mắt vĩnh viễn. Một nghiên cứu trên 337 người trưởng thành bị cận thị nặng (độ cận trung bình –10,2D) cho thấy 56,1% mắt có tổn thương võng mạc ngoại vi và 11,3% mắt có tổn thương cực sau; trong đó 4,55% có rách võng mạc, yếu tố làm tăng nguy cơ bong võng mạc sau này. (2)

Cận 13 độ vẫn có thể phẫu thuật nhưng đa số trường hợp không phù hợp với LASIK hoặc SMILE. Lý do là mức cận quá cao khiến lượng mô giác mạc cần bào mòn vượt quá giới hạn an toàn làm tăng nguy cơ giãn giác mạc sau mổ. Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) cảnh báo các mắt có RSB (Residual Stromal Bed – lớp mô đệm giác mạc còn lại sau khi bào mòn bằng laser) dưới 250 µm phải được loại khỏi chỉ định phẫu thuật laser để tránh nguy cơ giãn hoặc biến dạng giác mạc về sau.
Ngoài giới hạn giác mạc người cận nặng như 13 độ thường có trục nhãn cầu dài và nguy cơ biến chứng đáy mắt cao. Vì vậy bác sĩ cần thăm khám kỹ bản đồ giác mạc, độ dày giác mạc, trục nhãn cầu và võng mạc trước khi đưa ra chỉ định phẫu thuật để đảm bảo an toàn thị lực lâu dài.
Như đã đề cập phẫu thuật LASIK hay SMILE thường không phù hợp cho người có độ cận nặng như 13 độ vì mức điều chỉnh lớn có thể làm bào mòn giác mạc quá mức. Do đó bác sĩ thường chỉ định các phương pháp không bào mòn giác mạc giúp bảo toàn cấu trúc nhãn cầu và mang lại thị lực ổn định lâu dài. Hai phương pháp an toàn và phổ biến nhất là đặt kính nội nhãn phakic ICL và phẫu thuật thay thủy tinh thể trong (RLE).
Phakic ICL là kỹ thuật đặt một thấu kính đặc biệt vào vị trí sau mống mắt và trước thủy tinh thể tự nhiên. Vì không bào mòn giác mạc nên phương pháp này phù hợp với người trẻ tuổi, giác mạc mỏng hoặc bản đồ giác mạc không ổn định. Thấy kính Phakic ICL có thể điều chỉnh cận thị từ –3,0D đến –15,0D và hỗ trợ giảm mức cận nặng hơn trong khoảng > –15,0D đến –20,0D, đồng thời không gây khô mắt kéo dài.
RLE (Refractive Lens Exchange) là phẫu thuật thay thủy tinh thể trong (thủy tinh thể tự nhiên được loại bỏ và thay bằng thủy tinh thể nhân tạo (IOL)) để giảm phụ thuộc vào kính. Quy trình giống phẫu thuật đục thủy tinh thể nhưng được thực hiện để cải thiện thị lực, đặc biệt phù hợp với người trên 40 tuổi bị lão thị, phải dùng kính hai tròng hoặc kính đọc và những trường hợp không phù hợp với LASIK hay PRK. Phương pháp này giúp mang lại tầm nhìn ở nhiều khoảng cách, hồi phục nhanh và loại bỏ hoàn toàn nguy cơ đục thủy tinh thể trong tương lai.
Để lựa chọn giữa hai phương pháp này, bác sĩ sẽ căn cứ vào tuổi, độ sâu tiền phòng, trục nhãn cầu, tình trạng võng mạc, khả năng điều tiết và mục tiêu thị lực lâu dài để đảm bảo an toàn và cải thiện thị lực bền vững cho người cận 13 độ.

>>> Xem thêm: Mắt cận 12 độ có mổ được không?
Phẫu thuật điều trị cận thị rất nặng như 13 độ luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn do cấu trúc nhãn cầu đã bị kéo dài và giác mạc trở nên mỏng, yếu. Khi cố gắng điều trị bằng laser, lượng mô giác mạc phải bào mòn thường vượt quá giới hạn an toàn làm tăng nguy cơ giác mạc giãn hoặc biến dạng, gây giảm thị lực nặng và khó hồi phục.
Bên cạnh các vấn đề ở giác mạc người cận thị nặng còn đối diện với nguy cơ biến chứng đáy mắt cao hơn. Trục nhãn cầu kéo dài làm căng giãn vùng hắc – võng mạc khiến mắt dễ xuất hiện thoái hóa võng mạc chu biên, lỗ hoàng điểm hoặc bong võng mạc, đặc biệt sau phẫu thuật nếu những yếu tố này không được đánh giá đầy đủ trước đó. Ở nhóm cận thị rất cao những biến đổi này thường đã tồn tại âm thầm từ trước nên mọi can thiệp phẫu thuật đều cần thăm khám đáy mắt kỹ lưỡng.
Đối với phẫu thuật đặt kính nội nhãn ICL rủi ro tập trung vào sự tương thích giữa thấu kính và cấu trúc tiền phòng chẳng hạn tăng nhãn áp, khoảng cách giữa ICL và thủy tinh thể không ổn định hoặc sai kích thước kính. Còn đối với phương pháp RLE những nguy cơ đáng lưu ý gồm mất khả năng điều tiết tự nhiên sớm và tăng nguy cơ bong võng mạc ở người có trục nhãn cầu dài. Do đó ở bệnh nhân cận 13 độ bác sĩ cần đánh giá toàn diện độ dày giác mạc, bản đồ giác mạc, độ sâu tiền phòng và đặc biệt là tình trạng võng mạc để lựa chọn phương pháp phẫu thuật an toàn và phù hợp nhất.
Tóm lại cận 13 độ có mổ được không phụ thuộc vào việc mắt có đáp ứng đủ các tiêu chí an toàn về giác mạc, tiền phòng và võng mạc hay không. Ở mức cận rất cao các phương pháp laser như LASIK hay SMILE thường không còn phù hợp nhưng những kỹ thuật không bào mòn giác mạc như ICL hoặc RLE vẫn có thể mang lại thị lực tốt nếu được lựa chọn đúng chỉ định. Điều bắt buộc để đánh giá mắt cận 13 độ mổ được hay không là người bệnh cần được khám toàn diện với bác sĩ nhãn khoa để đánh giá cấu trúc mắt, nguy cơ biến chứng và lựa chọn phương pháp tối ưu.