Nhiều người vẫn chủ quan với tình trạng thiếu oxy khi ngủ cho đến khi các biến chứng sức khỏe dần hiện rõ. Chỉ cần chỉ số SpO₂ thấp hơn 95%, hệ thống cơ quan đã bắt đầu chịu áp lực lớn. Để hiểu rõ cơ chế và cách khắc phục an toàn, mời bạn cùng ECO Pharma tham khảo bài viết sau.

Thiếu oxy khi ngủ là tình trạng nồng độ oxy trong máu giảm dưới mức bình thường trong lúc ngủ được xác định khi chỉ số SpO₂ dưới 95%. Oxy là “nhiên liệu” cần thiết để não bộ và các cơ quan hoạt động trơn tru, nếu thiếu hụt sẽ làm rối loạn nhiều chức năng sinh lý quan trọng.
Hiện tượng này xảy ra khi quá trình lưu thông và trao đổi khí bị gián đoạn, thường do tắc nghẽn đường thở hoặc rối loạn chức năng hô hấp – tuần hoàn. Lúc này não và các mô không nhận đủ oxy, đặc biệt là vào ban đêm khi cơ thể về trạng thái nghỉ ngơi. Ở người khỏe mạnh nhịp thở khi ngủ thường chậm và nông, đôi khi xuất hiện những khoảng ngừng thở rất ngắn nhưng không gây nguy hiểm.
Tuy nhiên khi độ bão hòa oxy giảm xuống ≤ 88%, kéo dài từ 5 phút trở lên, tình trạng này được xếp vào thiếu oxy khi ngủ, thường liên quan đến các rối loạn bệnh lý tiềm ẩn.
Bệnh thiếu oxy khi ngủ sẽ có các biểu hiện ngáy to, thở hổn hển hoặc ngưng thở khi ngủ; thức giấc nhiều lần trong đêm; giấc ngủ chập chờn, hay mộng mị; mệt mỏi, buồn ngủ, ban ngày mất tập trung. Nếu không được phát hiện sớm, bị thiếu oxy khi ngủ kéo dài có thể làm tăng nguy cơ cao huyết áp, mắc bệnh tim mạch, đột quỵ và suy giảm trí nhớ. (1)
Dưới đây là những nguyên nhân thường gặp:
Ngưng thở khi ngủ đặc biệt ở thể tắc nghẽn là nguyên nhân hàng đầu gây thiếu oxy khi ngủ. Lúc ngủ các cơ vùng hầu họng giãn ra, lưỡi và mô mềm xẹp xuống làm hẹp đường thở hình thành các cơn ngưng thở lặp đi lặp lại nhiều lần trong đêm. Mỗi cơn ngưng thở đều làm oxy trong máu giảm đột ngột, buộc não kích hoạt phản xạ thức tỉnh để tái lập hô hấp khiến giấc ngủ bị gián đoạn.
Người bệnh thường có biểu hiện ngáy to kéo dài, thở hổn hển, đau đầu buổi sáng và buồn ngủ ban ngày. Thiếu oxy do tình trạng này lâu dần sẽ khiến nguy cơ mắc bệnh tim mạch và biến cố nặng gia tăng.
Những bệnh làm suy giảm chức năng phổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trao đổi oxy, rõ nhất là vào ban đêm khi thông khí giảm. Hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn, xơ phổi mãn tính có thể khiến lượng oxy trong máu tụt thấp khi ngủ. Ở trường hợp nặng nồng độ oxy không phục hồi nhanh sau mỗi lần giảm dẫn đến thiếu oxy kéo dài suốt đêm.
Tim giữ vai trò bơm máu giàu oxy đến các cơ quan. Khi chức năng tim suy giảm, khả năng cung cấp oxy trong lúc ngủ cũng bị ảnh hưởng. Suy tim gây tụ dịch phổi làm cản trở trao đổi khí, trong khi tăng áp phổi khiến tim phải làm việc quá sức. Những rối loạn này thường nặng hơn trong giấc ngủ REM khiến tình trạng bị thiếu oxy khi ngủ nặng dần và làm tim phải chịu tải lớn hơn.
Khi ngủ đặc biệt trong giai đoạn REM, khả năng điều chỉnh hô hấp của cơ thể giảm đi nên không phản ứng kịp với tình trạng thiếu oxy. Đồng thời các cơ hô hấp và cơ đường thở giãn yếu hơn, dung tích phổi cũng giảm tự nhiên, nhất là khi nằm ngửa.
Ở người mắc bệnh thần kinh – cơ cơ hô hấp vốn đã yếu nên khả năng thông khí về đêm lại càng giảm thấy rõ từ đó gây thiếu oxy ngay cả khi ban ngày chưa xuất hiện triệu chứng rõ ràng.
Ngoài các bệnh lý kể trên thiếu oxy khi ngủ còn có thể do thừa cân/béo phì, thiếu máu nặng, lạm dụng rượu bia, thuốc an thần hoặc hút thuốc lá. Bên cạnh đó tư thế ngủ không phù hợp như nằm ngửa khiến lưỡi dễ tụt ra sau hoặc môi trường ngủ kín, thông khí kém cũng góp phần làm giảm oxy trong máu về đêm.
Ngoài ra ở vùng núi cao, không khí chứa ít oxy hơn khiến những người sinh sống hoặc di chuyển đến khu vực này dễ bị giảm oxy trong khi ngủ.

Bệnh thiếu oxy khi ngủ thường không dễ nhận biết thông qua cảm nhận, do các triệu chứng diễn ra âm thầm trong lúc ngủ. Tuy nhiên tình trạng này có thể được phát hiện thông qua chỉ số SpO₂ kết hợp với một số dấu hiệu đặc trưng xuất hiện vào ban đêm lẫn ban ngày.
Nhận biết qua chỉ số oxy trong máu (SpO₂): SpO₂ phản ánh mức độ bão hòa oxy trong máu và là chỉ số quan trọng để sàng lọc thiếu oxy khi ngủ: (2)
Nếu SpO₂ thường xuyên giảm dưới 92% hoặc tụt xuống dưới 88% trong nhiều đêm nguy cơ xuất hiện rối loạn hô hấp, đặc biệt là ngưng thở khi ngủ sẽ tăng cao.
Hiện tượng thiếu oxy khi ngủ ngoài khiến giấc ngủ bị gián đoạn còn tác động sâu rộng đến nhiều cơ quan quan trọng của cơ thể, đặc biệt khi nồng độ oxy trong máu giảm dưới 90%, tái lặp nhiều đêm liên tục. Trước hết hệ tim mạch là cơ quan chịu ảnh hưởng rõ nhất. Khi oxy trong máu giảm tim buộc phải tăng cường hoạt động để bù trừ lượng oxy thiếu hụt cho các mô.
Về lâu dài tình trạng này làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp, rối loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Nếu thiếu oxy kéo dài áp lực trong động mạch phổi có thể tăng cao dễ gây suy tim phải, đồng thời khiến bệnh tim mạch trầm trọng hơn.
Não bộ cũng bị ảnh hưởng âm thầm nhưng không kém phần nghiêm trọng. Là cơ quan tiêu thụ nhiều oxy nhất, não rất nhạy cảm với tình trạng thiếu oxy. Người bệnh dễ có biểu hiện suy giảm trí nhớ, mất tập trung, buồn ngủ ban ngày và rối loạn cảm xúc. Về lâu dài thiếu oxy về đêm còn gây rối loạn chuyển hóa và làm tăng nguy cơ tiến triển các bệnh lý thoái hóa thần kinh.
Song song đó thiếu oxy khi ngủ thường đi kèm ngưng thở khi ngủ khiến cấu trúc giấc ngủ bị phá vỡ, người bệnh dễ thức giấc nhiều lần trong đêm. Ngủ chập chờn, thức dậy vẫn mệt mỏi từ đó làm giảm chất lượng sống và hiệu suất học tập, làm việc kém.
Về lâu dài khi não, tim và phổi không nhận đủ oxy trong thời gian nghỉ ngơi ban đêm, chức năng của các cơ quan này bắt đầu suy giảm dần. Cơ thể có xu hướng tăng sản xuất hồng cầu nhằm bù đắp oxy khiến máu đặc hơn từ đó làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố tim mạch.

Chẩn đoán bệnh thiếu oxy khi ngủ được thực hiện dựa trên đánh giá lâm sàng kết hợp theo dõi nồng độ oxy ban đêm và thăm dò giấc ngủ chuyên sâu.
Duy trì nồng độ oxy trong máu ổn định về đêm góp phần bảo vệ não – tim – phổi, đồng thời hạn chế tối đa biến chứng. Đối với những người thường xuyên mệt mỏi khi thức dậy ngáy to hoặc mắc bệnh lý hô hấp, có thể tham khảo những biện pháp sau đây:

Dưới đây là một số thắc mắc thường gặp khi tìm hiểu về vấn đề thiếu oxy lúc ngủ:
Phòng ngủ kín hiếm khi gây thiếu oxy khi ngủ vì vẫn có sự trao đổi không khí qua khe cửa và cửa ra vào. Tuy nhiên nếu phòng quá kín, không có thông gió, đóng cửa trong thời gian dài sẽ làm gia tăng khí carbon dioxide, gây cảm giác ngột ngạt, đau đầu, mệt mỏi khi thức dậy. Lúc này hãy mở cửa sổ, tạo khe thông gió hoặc dùng máy lọc không khí để không gian thông thoáng, hỗ trợ hô hấp tốt khi ngủ.
Người trẻ vẫn có thể bị thiếu oxy khi ngủ, nguy cơ thường liên quan đến các vấn đề cụ thể như ngưng thở khi ngủ, thừa cân, nghẹt mũi kéo dài, amidan to, hen phế quản. Người trẻ khỏe mạnh, không có bệnh hô hấp, ngủ trong môi trường thông thoáng thường rất hiếm khi gặp phải tình trạng thiếu oxy nguy hiểm về đêm.
Hiện tượng thiếu oxy khi ngủ là vấn đề không nên xem nhẹ vì có thể ảnh hưởng lâu dài đến não bộ, tim mạch và chất lượng sống. Chủ động điều chỉnh tư thế ngủ, môi trường ngủ, lối sống và kiểm soát bệnh nền giúp cải thiện nồng độ oxy ban đêm hiệu quả. Khi xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ, người bệnh nên thăm khám sớm để được chẩn đoán, can thiệp kịp thời và hạn chế tối đa biến chứng nguy hiểm.