Nhịp tim bình thường dao động trong khoảng từ 60 – 100 lần/phút lúc nghỉ. Tim đập dưới 60 nhịp/ phút được coi là nhịp tim chậm. Điều trị nhịp tim chậm thường cần thiết khi đi kèm triệu chứng, đặc biệt là khi nhịp tim đập dưới mức 30 lần/phút, không nhận đủ oxy lên não dẫn đến ngất xỉu, chóng mặt và khó thở. Nhịp tim chậm cũng có thể làm ứ trệ tuần hoàn, gây ra các biểu hiện của suy tim sung huyết. Cùng ECO Pharma tìm hiểu các phương pháp điều trị nhịp tim chậm phổ biến hiện nay.

Nhịp tim chậm là nhịp tim đập chậm hơn bình thường hay còn được gọi là rối loạn nhịp chậm, xảy ra khi tần số tim dưới 60 lần/phút. Với tốc độ này, tim không thể nào bơm đủ máu và oxy đến các cơ quan trong quá trình hoạt động hoặc vận động. Kết quả là người bệnh có thể cảm thấy bị chóng mặt, khó thở, ngất xỉu do thiếu năng lượng. Trong khi đó, tim của người trưởng thành khi nghỉ ngơi thường đập từ 60 – 100 lần/phút.
Các tín hiệu điện khởi phát từ nút xoang và được truyền qua bốn buồng của tim thông qua một hệ thống dẫn truyền nhịp, hai buồng trên gọi là tâm nhĩ và hai buồng dưới là hai tâm thất, đây là dấu hiệu cho thấy tim của bạn đang đập ổn định. Những tín hiệu này thường được khởi phát theo nhịp điệu đều đặn. Thế nhưng các xung điện không phải lúc nào cũng phát ra như bình thường.
Cũng chính vì điều này đã tạo ra tình trạng rối loạn nhịp tim. Sự cố về tín hiệu điện làm chậm thời gian phát xung hoặc dẫn truyền của các nhịp tim, làm cho nhịp tim chậm. Dù rằng đây là vấn đề nguy hiểm cần phải được chữa trị nhanh chóng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tình trạng nhịp tim chậm cũng có thể xảy ra trong điều kiện hoàn toàn bình thường và sức khỏe vẫn ổn định mà không hề gây ra bất kỳ tác hại nào.
Theo chuyên gia phân tích, nhịp tim của người bình thường có thể giảm xuống dưới 60 lần/phút khi ngủ sâu. Hoặc ở những người hoạt động thể chất nhiều, nhịp tim lúc nghỉ ngơi có thể chậm hơn 60 lần/phút. Tuy nhiên, không nên xem thường vấn đề này, trong trường hợp nếu bạn không có thể chất tốt, nhịp tim chậm có thể là dấu hiệu của một tình trạng bệnh lý tiềm ẩn có liên quan đến tim mạch. [1]
Việc kiểm soát, điều trị nhịp tim chậm có thể được chữa và nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau chẳng hạn như là:
Ở một số người, nhịp tim chậm còn do các nguyên nhân tạm thời gây ra như mệt mỏi, stress, chán ăn nhưng nó không ảnh hưởng đáng kể và có thể tự khỏi mà không cần điều trị. Bên cạnh đó, nhịp tim có thể đập trở lại ổn định nếu như bạn thay đổi lối sống, tập thể dục thường xuyên, ăn uống lành mạnh và ngủ đủ giấc.
Mặt khác, nguyên nhân gây nên nhịp tim chậm có thể xuất phát từ các vấn đề về bệnh lý như là:
Việc điều trị nhịp tim chậm do các nguyên nhân ở trên gây ra sẽ phải được thực hiện bởi bác sĩ có chuyên môn. Lúc này, họ sẽ đề xuất các phương pháp phù hợp với từng nguyên nhân cụ thể, người bệnh chỉ cần thực hiện đúng theo phác đồ điều trị thì sức khỏe tim mạch sẽ được cải thiện đáng kể. Các triệu chứng điển hình như là chóng mặt, đau ngực, hụt hơi, ngất xỉu, ảnh hưởng trí nhớ sẽ dần dần thuyên giảm.
Người bệnh có thể cân nhắc đến các phương pháp điều trị chứng nhịp tim chậm mà bác sĩ đã đưa ra, tùy theo mức độ nhịp tim đập và sức khỏe tổng thể hãy chọn liệu pháp an toàn để không gây ra những biến chứng nguy hiểm.
Không phải đối tượng nào cũng cần điều trị chứng nhịp tim chậm, nhất là trong trường hợp tình trạng này không hề có triệu chứng rõ ràng.
Dưới đây là một số đối tượng thường được chỉ định điều trị nhịp tim chậm:
Việc điều trị nhịp tim chậm sẽ khác nhau ở mỗi bệnh nhân vì nó sẽ còn phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng và nguyên nhân gây ra tình trạng của họ. Trong một số trường hợp, khi nhịp tim bất thường là do một tình trạng tiềm ẩn gây ra, chẳng hạn như suy giáp, việc điều trị có thể tập trung vào việc giải quyết tình trạng tiềm ẩn đó.
Nếu nhịp tim chậm không gây ra triệu chứng thì có thể không cần điều trị. Mục tiêu của việc điều trị là làm tăng nhịp tim và giảm các triệu chứng. Đối với một số loại nhịp tim chậm, việc điều trị kịp thời có thể giúp ngăn ngừa các vấn đề nghiêm trọng bao gồm tình trạng ngất xỉu, chấn thương và thậm chí là gây ra tử vong.
Dưới đây là một số phương pháp điều trị nhịp tim chậm hiệu quả mà bác sĩ vẫn thường áp dụng bao gồm:
Phương pháp cải thiện nhịp tim chậm và ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra đó chính là dùng thuốc điều trị. Thuốc được chỉ định sử dụng nếu nhịp tim chậm có triệu chứng không thể điều chỉnh được hoặc nếu không thể xác định được nguyên nhân cơ bản. Người bệnh nên sử dụng thuốc hàng ngày, nó sẽ giúp cải thiện chức năng tim, bao gồm cả nhịp tim và làm ổn định sức khỏe tim mạch.
Hiện nay, có 3 loại thuốc được sử dụng trong điều trị nhịp tim chậm là atropine, epinephrine và dopamine:
Atropine là thuốc đầu tiên để điều trị nhịp tim chậm. Việc sử dụng atropine thường làm tăng nhịp tim. Sự gia tăng nhịp tim này xảy ra do atropine ngăn chặn tác động của dây thần kinh phế vị lên tim. Khi dây thần kinh phế vị bị chặn, nút xoang sẽ tăng tốc độ phát nhịp và điều này dẫn đến nhịp tim tăng lên.
Liều dùng Atropine là 1mg tiêm vào tĩnh mạch trong khoảng thời gian từ 3 – 5 phút, tổng liều tối đa cho một lần dùng là 3 mg. Mỗi lần dùng cách 3 – 5 phút nếu cần. Nên tránh dùng atropine khi nhịp tim chậm do hạ thân nhiệt và trong hầu hết các trường hợp, nó sẽ không có hiệu quả đối với block nhĩ thất độ 2 Mobitz loại II hoặc block tim hoàn toàn. [2]
Epinephrine và Dopamine là nhóm thuốc thứ hai dùng để điều trị tình trạng nhịp tim chậm có triệu chứng. Nếu nhịp tim chậm không đáp ứng với Atropine, một giải pháp thay thế là truyền tĩnh mạch chất chủ vận beta-adrenergic (Dopamine hoặc Epinephrine)
Liều lượng truyền tĩnh mạch cho nhịp tim chậm: Dùng 1mg Epinephrine pha với 500ml NS hoặc D5W. Tốc độ truyền nên dao động trong khoảng từ 2 – 10 mcg/phút và điều chỉnh theo tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Dopamine 400mg pha với 250 ml NS. Bắt đầu truyền Dopamine với tốc độ từ 5 – 20 mcg/kg/phút và điều chỉnh theo phản ứng của bệnh nhân.
Ngoài việc sử dụng 2 loại thuốc điều trị như trên, người bệnh cũng nên xem qua các lựa chọn thay thế khác bao gồm [3]:
Sau khi có đáp ứng điều trị, tiếp tục theo dõi nếu có nguy cơ vô tâm thu (vô tâm thu gần đây, block nhĩ thất Mobitz II, block tim hoàn toàn với QRS rộng, ngừng thất >3 giây).

Bên cạnh việc dùng thuốc, bác sĩ cũng đề xuất cách chữa nhịp tim chậm bằng máy tạo nhịp tạm thời. Theo đó, việc tạo nhịp tim tạm thời sẽ cung cấp sự kích thích điện thay cho hệ thống tạo nhịp và dẫn truyền nhịp của tim bị tổn thương dẫn đến mất ổn định huyết động. Mục đích của việc tạo nhịp tạm thời là để thiết lập lại huyết động bình thường
Thông thường, máy tạo nhịp tim tạm thời sẽ được sử dụng phổ biến nhất cho những bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim chậm có triệu chứng.
Hơn nữa, loại máy này còn dùng để kiểm soát chứng rối loạn nhịp tim chậm khi tình trạng này là tạm thời và khi không cần thiết hoặc không có sẵn máy tạo nhịp tim vĩnh viễn, hoặc nguy cơ đặt máy tạo nhịp tim vĩnh viễn có nhiều rủi ro phát sinh.
Theo đó, dây điện cực máy tạo nhịp tạm thời sẽ được đưa vào trong tim thông qua tĩnh mạch. Nó sẽ tiếp cận tĩnh mạch trung tâm và đặt dây tạo nhịp trong tim. Con đường tiếp cận ưa thích đối với tạo nhịp qua tĩnh mạch tạm thời là qua đường tĩnh mạch dưới đòn, tĩnh mạch vùng đầu hoặc hiếm khi là tĩnh mạch nách, tĩnh mạch cảnh trong hoặc tĩnh mạch đùi
Đối với một số người bị nhịp tim chậm, máy tạo nhịp tim vĩnh viễn là phương pháp điều trị tốt nhất để giải quyết tình trạng này. Trong đó, máy tạo nhịp tim vĩnh viễn được thiết kế để sử dụng lâu dài. Chúng có thể ổn định nhịp tim bất thường và ngăn ngừa các vấn đề có thể làm gián đoạn hoặc gây nguy hiểm cho cuộc sống của người bệnh.
Thông thường, tim có hệ thống điện riêng, nó sẽ phát nhịp và dẫn truyền nhịp giúp cho các buồng tim co bóp nhịp nhàng. Khi hệ thống điện của tim gặp trục trặc, các buồng tim có thể không phối hợp co bóp nhịp nhàng như bình thường hoặc co bóp quá yếu để cung cấp đủ máu cho cơ thể. Lúc này, máy tạo nhịp tim sẽ gửi các xung điện để giúp tim đập với tốc độ bình thường.
Tùy thuộc vào vấn đề tim mạch, một loại máy tạo nhịp tim cụ thể có từ một đến ba dây (gọi là dây dẫn) sẽ được sử dụng. Các loại máy tạo nhịp tim bao gồm máy tạo nhịp tim không dây, máy tạo nhịp tim một buồng, máy tạo nhịp tim hai buồng, máy tạo nhịp tim hai tâm thất.
Về phần cấy ghép, máy điều hòa nhịp tim vĩnh viễn thường được cấy vào mô mềm bên dưới da ở khu vực bên dưới xương đòn, được gọi là cấy ghép trước ngực. Các dây dẫn của máy tạo nhịp tim thường được đưa vào tĩnh mạch chính (theo đường tĩnh mạch) và các dây dẫn được cố định trong (các) vùng thích hợp của cơ tim. Đầu còn lại của dây dẫn được gắn vào bộ tạo xung.
Còn máy tạo nhịp tim không dây thường được cấy trực tiếp vào cơ tim mà không cần máy tạo xung riêng. Mặc dù máy tạo nhịp tim vĩnh viễn không thể chữa khỏi hoàn toàn tình trạng này nhưng nó có thể là giải pháp lâu dài để cho một số tình trạng mãn tính hoặc tái phát và không phải do nguyên nhân thoáng qua.
Quá trình phục hồi sau thủ thuật diễn ra nhanh chóng nhưng có thể có một số hạn chế về cử động và hoạt động của cánh tay trong hai đến bốn tuần đầu tiên. Tình trạng tụt đầu điện cực có thể xảy ra, thường phổ biến hơn trong vài tuần đầu tiên sau khi cấy ghép. Thời gian nằm viện thường ngắn, người bệnh có thể về nhà và tự chăm sóc sức khỏe bản thân.
Tuy nhiên, những rủi ro không phổ biến nhưng có thể xảy ra liên quan đến việc cấy máy tạo nhịp tim vĩnh viễn bao gồm tràn khí màng phổi, nhiễm trùng, thủng/chèn ép và chảy máu.
Dưới đây là một số rủi ro có thể xảy ra sau điều trị nhịp chậm:

Chăm sóc sau điều trị nhịp tim chậm rất quan trọng để giúp hồi phục nhanh chóng và giảm nguy cơ biến chứng. Dưới đây là một số hướng dẫn chăm sóc sau điều trị nhịp tim chậm bao gồm:
Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh (BVĐK Tâm Anh), trước khi bệnh nhân được chỉ định phương pháp điều trị, việc chẩn đoán nhịp tim chậm sẽ được bắt đầu bằng việc bác sĩ hỏi bệnh nhân về triệu chứng và tiền sử bệnh lý, kết hợp khám sức khoẻ tổng quan. Khi khám sức khỏe, bác sĩ sẽ nghe nhịp tim của bệnh nhân để phát hiện xem có nhịp tim bất thường hay không.
Bệnh nhân cũng được yêu cầu mô tả chi tiết về các triệu chứng của họ. Các triệu chứng có thể gợi ý sự hiện diện của nhịp tim chậm. Nếu quan sát thấy nhịp tim bất thường, bác sĩ có thể yêu cầu đo điện tâm đồ để xác định chẩn đoán. Điện tâm đồ là một thủ thuật không gây đau, giúp ghi lại hoạt động điện của tim. Để được tiếp nhận các phương pháp điều trị nhịp tim chậm an toàn, hiệu quả người bệnh nên đi khám tại BVĐK Tâm Anh.
Tại Trung tâm Tim mạch của BVĐK Tâm Anh (Hà Nội và TP.HCM), người bệnh sẽ được bác sĩ chẩn đoán bệnh tim, mạch máu và lồng ngực. Hơn nữa, hệ thống cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị, máy móc ở đây đều rất khang trang và được đầu tư hết sức hiện đại để phục vụ cho công tác khám bệnh. Những máy phục vụ khám nhịp tim chậm như máy đo ECG, máy theo dõi điện tim Holter ECG, máy chụp cộng hưởng từ tim…
Do đó, những bệnh nhân nào đang có nhu cầu đi khám tim khi phát hiện bản thân có những triệu chứng bất thường như chóng mặt, đau ngực, ngất xỉu, luôn mệt mỏi thì có thể đến BVĐK Tâm Anh để xác định rõ nguyên nhân cụ thể. Các y bác sĩ, nhân viên y tá với nhiều năm kinh nghiệm và chuyên môn cao sẽ giúp cho tình trạng bệnh của bạn được thuyên giảm nhanh chóng.
Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp về việc điều trị nhịp tim chậm:
Việc điều trị nhịp tim chậm có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm nguy cơ biến chứng dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, thời gian điều trị có thể khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Sau đây là một số yếu tố liên quan đến tình trạng nhịp tim chậm bao gồm:

Bệnh nhịp tim chậm có thể tái phát sau khi điều trị. Khả năng tái phát phụ thuộc vào các yếu tố như là:
Xem thêm: Người bị nhịp tim chậm nên ăn gì?
“Phòng ngừa nhịp tim chậm phải làm sao?” Để ngăn cho tình trạng này xuất hiện, bạn nên thực hiện các bước có lợi cho tim sau đây:
Do nền y học ngày càng tiến bộ, việc điều trị nhịp tim chậm cũng dễ dàng hơn nhiều. Người bệnh nên đến gặp bác sĩ để xác định chính xác nguyên nhân khiến cho nhịp tim đập chậm là gì, từ đó bác sĩ sẽ đề ra phương pháp điều trị nhịp chậm để giúp cho nhịp tim không bị rối loạn và tần số tim được ổn định như bình thường. Ngoài ra, bạn cũng nên từ bỏ những thói quen xấu ảnh hưởng đến tim mạch, bổ sung thực phẩm dinh dưỡng và tăng cường hoạt động thể chất.