Đái dầm xảy ra ở trẻ nhỏ được xem là một hiện tượng sinh lý tự nhiên nhưng xảy ra ở thanh thiếu niên và người trưởng thành có thể cảnh báo các vấn đề về nội tiết, bàng quang hoặc tâm lý. Cùng ECO Pharma tìm hiểu hay đái dầm là bệnh gì và một số vấn đề liên quan trong bài viết sau.

Trong đời sống đái dầm còn được gọi là tiểu dầm, tè dầm. Đây là hiện tượng tiểu không tự chủ khi đang ngủ phổ biến ở trẻ nhỏ và ở cả những trẻ đã tự biết đi vệ sinh 4 – 6 tuổi.
Hầu hết tè dầm sẽ tự hết khi trẻ lớn dần nhưng nếu trên 12 tuổi vẫn xảy ra hai lần trở lên mỗi tuần trong ít nhất ba tháng liên tiếp nên coi là một vấn đề sức khỏe cần được can thiệp. Vì tình trạng này có thể gây căng thẳng cho trẻ và gia đình, chủ yếu xoay quanh nỗi xấu hổ và cảm thấy phiền toái. Điều quan trọng cần hiểu chứng đái dầm không phải là kết quả của việc không biết cách đi vệ sinh hoặc do lười biếng mà có thể do các yếu tố tâm lý và bệnh lý.
Các nghiên cứu cho thấy cứ 10 trẻ em Mỹ thì có một trẻ mắc chứng đái dầm ban đêm; trong đó khoảng 30% là trẻ dưới 7 tuổi và khoảng 5% là trẻ 10 tuổi; thiếu niên 15 tuổi chiếm khoảng 1% – 2%. Người trưởng thành chiếm một tỷ lệ nhỏ chỉ khoảng 2% – 3%.
Đối với trẻ em, hiện tượng đái dầm không tự chủ được gọi là đái dầm nguyên phát. Nếu trẻ đã tự chủ được ít nhất 6 tháng, sau đó tè dầm trở lại thì được gọi là đái dầm thứ phát. Rất hiếm khi một đứa trẻ không có tiền sử đái dầm ban đêm lại có thể bị đái dầm đột ngột. Nếu trẻ bắt đầu tè dầm vào ban đêm sau một thời gian không xuất hiện tình trạng này từ 6 tháng trở lên nên được thăm khám bất kể trước đây có bị hay không. (1)
Đối với người lớn đái dầm có thể được phân loại theo trình tự thời gian (tức là nguyên phát so với thứ phát) hoặc theo triệu chứng (tức là có liên quan đến các triệu chứng đường tiết niệu dưới hay không).

Chứng đái dầm có thể xảy ra ở cả trẻ em và người lớn. Nhưng những trẻ dưới 6 tuổi phổ biến nhất vì vẫn đang học cách kiểm soát bàng quang; tình trạng này cũng phổ biến hơn ở các bé trai so với bé gái.
Ở người lớn đái dầm dễ xảy ra hơn ở những người mắc bệnh lý dẫn đến tiểu không tự chủ hoặc từng trải qua chấn thương tâm lý, căng thẳng nghiêm trọng. Ngoài ra những người có cha mẹ hoặc anh chị em ruột bị đái dầm cũng sẽ bị tương tự.
Nguyên nhân gây tiểu dầm ở mỗi độ tuổi có thể khác nhau, cụ thể như sau: (2)
Nguyên nhân phổ biến nhất ở trẻ em là do không kiểm soát được bàng quang. Trẻ em thường bắt đầu học được cách kiểm soát bàng quang trong độ tuổi từ 2 đến 4 nhưng nhiều trẻ muộn hơn phải đến tận năm 6 tuổi. Phần lớn trẻ đã kiểm soát được bàng quang vào năm 7 tuổi vì vậy nếu lớn hơn vẫn bị tè dầm có thể là do một số bệnh lý như:
Người trên 18 tuổi vẫn có thể bị tiểu dầm ban đêm do di truyền hoặc các nguyên nhân phổ biến sau:

Xem thêm: Bệnh mất ngủ giả Parasomnias
Ở trẻ em, theo sinh lý tự nhiên tè dầm sẽ ngừng sau 5 – 7 tuổi. Một số nghiên cứu cho thấy 72% trẻ em hết tè dầm ban đêm khi được 11 tuổi và 99% khi được 15 tuổi. Nhưng vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng nên thường không thể biết khi nào chứng tè dầm sẽ chấm dứt; nó có thể kết thúc đột ngột mà không có dấu hiệu báo trước nhưng cũng có thể kéo dài đến hàng tháng hoặc hàng năm.
Ở người trưởng thành, đái dầm thỉnh thoảng xảy ra khi say xỉn hoặc quá mệt mỏi. Nhưng đái dầm do tâm lý, bệnh lý có thể sẽ kéo dài và tăng tần suất theo tiến trình của bệnh.
Như đề cập hầu hết trẻ em sẽ ngừng tè dầm khi lớn lên nhưng sau 7 tuổi vẫn xảy ra thì cần phải can thiệp phù hợp mới hết được. Ở người trưởng thành đái dầm sẽ giảm tần suất hoặc hết hẳn sau khi các nguyên nhân được kiểm soát hoặc chữa khỏi. (3)
Bác sĩ sẽ khám sức khỏe và hỏi về độ tuổi, bệnh sử đầy đủ, bao gồm các triệu chứng, lượng chất lỏng nạp vào cơ thể, tiền sử gia đình, thói quen đại tiện và tiểu tiện. Một số phương pháp chẩn đoán có thể được thực hiện là:
Nếu bác sĩ nghi ngờ các yếu tố về cảm xúc hoặc tâm lý gây ra chứng đái dầm ban đêm, việc trò chuyện với chuyên gia tâm lý có thể cần thực hiện.

Trẻ em dưới 7 tuổi bị đái dầm không cần thiết phải can thiệp vì đó là sinh lý tự nhiên. Nhưng trẻ trên 7 tuổi và người trưởng thành cần thay đổi lối sống, dùng thuốc theo chỉ định.
Bác sĩ có thể hướng dẫn một số cách thay đổi thói quen sinh hoạt để cải thiện chứng đái dầm. Nên áp dụng kết hợp những cách sau:
Các loại thuốc sau đây có thể được sử dụng để điều trị chứng đái dầm:
Bạn có thể giúp trẻ giảm thiểu hoặc phòng ngừa tình trạng đái dầm bằng những cách thay đổi lối sống như đã đề cập nêu trên. Hướng dẫn trẻ nên cố gắng đi tiểu từ 4 đến 7 lần mỗi ngày. Nên thử đi tiểu cách nhau 2 tiếng, bắt đầu từ khi trẻ thức dậy, trước khi rời nhà hoặc trường học, và lần cuối cùng nên thực hiện trước khi đi ngủ. Nếu trẻ thức giấc vào ban đêm, nên đưa trẻ đến nhà vệ sinh. Trẻ cũng nên tránh các loại đồ uống có hàm lượng đường và caffeine cao.
Việc hạn chế uống nước trước khi ngủ cũng có hiệu quả trong ngăn ngừa tè dầm. Phụ huynh phải đảm bảo trẻ được cung cấp đủ chất lỏng trong ngày trước khi hạn chế cho trẻ uống nước vào buổi tối. Việc hạn chế chất lỏng vào buổi tối chỉ cần thiết nếu gia đình thấy phương pháp này có hiệu quả.

Việc tè dầm ban đêm là rất bình thường và phổ biến. Tuy nhiên, tè dầm ban ngày thường không bình thường, cần được bác sĩ kiểm tra. Ngoài ra, hãy đưa con đi thăm khám trong các trường hợp sau:
Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh là nơi quy tụ đội ngũ bác sĩ giỏi, chuyên gia đầu ngành trong việc thăm khám, tư vấn, điều trị đái dầm và nhiều vấn đề về tiểu tiện khác. Với không gian thăm khám riêng tư, chuyên nghiệp cùng sự phối hợp giữa các chuyên khoa như Tiết niệu, Nhi khoa và Tâm lý, bệnh viện Tâm Anh không chỉ giúp người bệnh cải thiện triệu chứng thể chất mà còn giải tỏa áp lực tâm lý, nâng cao chất lượng cuộc sống và sự tự tin trong sinh hoạt hàng ngày.
Tóm lại đái dầm thường không phải là một vấn đề nguy hiểm nhưng cần được quan tâm đúng mức. Việc kết hợp giữa điều chỉnh thói quen sinh hoạt và thăm khám chuyên khoa khi cần thiết là điều cần thiết để giải quyết vấn này. Phụ huynh đừng ngần ngại tìm kiếm sự hỗ trợ từ các bác sĩ để đảm bảo sức khỏe thể chất và tinh thần tốt nhất cho trẻ.