Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính mỗi năm khoảng 20 triệu người nhiễm virus HEV, chỉ khoảng 3,3 triệu trường hợp có triệu chứng. Hiện vẫn chưa có vắc xin phòng ngừa và thuốc đặc trị viêm gan E. Hiểu về bệnh lý hữu ích cho việc chủ động phòng ngừa hoặc điều trị.

Viêm gan E là bệnh truyền nhiễm do virus viêm gan E (HEV) gây ra. Có 4 loại virus HEV (kiểu gen 1, 2, 3, 4), trong đó kiểu gen 1 và 2 chỉ được tìm thấy ở người, còn kiểu gen 3 và 4 xuất hiện ở động vật và có khả năng lây nhiễm cho người.
Viêm gan E phổ biến nhất ở các nước đang phát triển với nguồn cung cấp nước không đầy đủ và vệ sinh môi trường kém, đặc biệt ở Châu Á, Châu Phi, Trung Đông và Trung Mỹ. Phần lớn nhiễm HEV dẫn đến bệnh cấp tính, tự giới hạn. Chỉ một số ít trường nhiễm trùng cấp tính trở thành mãn tính, chủ yếu ở những người được ghép tạng
Viêm gan siêu vi E có khả năng lây nhiễm cho người ở mọi độ tuổi, tuy nhiên những đối tượng sau có nguy cơ mắc phải virus này cao hơn:

Thời gian ủ bệnh có thể lên đến 2 – 10 tuần. Ở giai đoạn đầu thường không gây ra những triệu chứng cụ thể nên rất khó phát hiện. Khi bộc lộ triệu chứng, các dấu hiệu viêm gan E có thể là:
Nguyên nhân chính của bệnh viêm gan E là do lây nhiễm virus HEV. Cụ thể, virus HEV theo phân của người bệnh thải ra môi trường. Tiếp xúc với nguồn nước, rác thải, thực phẩm bị nhiễm HEV làm lây nhiễm bệnh dẫn đến viêm gan E.(1)
Ngoài ra, ăn thịt từ động vật bị nhiễm HEV như lợn, hươu,… hoặc ăn hải sản có vỏ ở những vùng nước bị ô nhiễm cũng dẫn đến bệnh viêm gan E.
Virus HEV cũng có khả năng lây nhiễm khi tiếp xúc với máu của người bệnh hoặc từ mẹ sang con trong quá trình sinh, tuy nhiên tình trạng này thường rất hiếm xảy ra.

Những phương pháp có thể được áp dụng để chẩn đoán tình trạng viêm gan siêu vi E là:
Xem thêm: Tìm hiểu xét nghiệm viêm gan E: Quy trình, đọc kết quả
Tùy vào trình trạng viêm gan E mà người bệnh có thể gặp những biến chứng nguy hiểm khác nhau.
Hầu hết người bệnh nhiễm viêm gan siêu vi E cấp tính thường có thể tự khỏi trong vòng 2 – 6 tuần không cần điều trị nếu có sức đề kháng tốt. Tuy nhiên, một số trường hợp có thể phát triển thành biến chứng nghiêm trọng như suy gan cấp, thường diễn ra phổ biến ở phụ nữ mang thai hoặc người mắc các bệnh lý về gan khác.
Phụ nữ mang thai có nguy cơ tử vong nếu nhiễm viêm gan E trong 3 tháng cuối thai kỳ (tuần 28 – 40). Một số biến chứng khác có thể diễn ra là thai lưu, sinh non, trẻ sinh ra nhẹ cân.

Tình trạng viêm gan E mạn tính thường rất hiếm và có thể dẫn đến các biến chứng xơ gan và suy gan ở người có hệ miễn dịch suy yếu như người đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch (do phẫu thuật ghép tạng), mắc bệnh suy giảm miễn dịch, người nhiễm HEV kiển gen 3 và 4,…
Hiện nay chưa có thuốc đặc trị cho viêm gan siêu vi E, đa số các trường hợp có thể tự khỏi sau 2 – 6 tuần. Điều trị hỗ trợ được áp dụng chủ yếu, bằng cách duy trì chế độ dinh dưỡng và thói quen sinh hoạt khoa học, nghỉ ngơi hợp lý, uống nhiều nước để tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ quá trình sản sinh kháng thể kháng virus HEV. Một số vitamin hoặc thảo dược hỗ trợ gan có thể được bác sĩ khuyên dùng. Phụ nữ mang thai nhiễm viêm gan E có thể cần nhập viện để theo dõi.
Đối với người bệnh nhiễm virus viêm gan E mạn tính, bác sĩ có thể kê đơn sử dụng thuốc Ribavirin liều thấp, Peginterferon hoặc kết hợp 2 loại thuốc này để hỗ trợ làm sạch virus trong máu. Người bệnh cần lưu ý tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ trong quá trình điều trị.
Hiện nay, vẫn chưa có vắc xin phòng viêm gan E nhưng bạn có thể chủ động phòng ngừa bằng các biện pháp:
Bên cạnh đó, bạn cần bảo vệ gan khỏe mạnh để tăng khả năng miễn dịch khi nhiễm virus như: không sử dụng bia rượu; có chế độ ăn uống lành mạnh, tránh các thực phẩm nhiều chất béo bão hòa, đường,…; duy trì cân nặng hợp lý; thường xuyên luyện tập thể thao; chỉ uống thuốc khi có chỉ định của bác sĩ; tiêm phòng các loại vắc xin ngừa viêm gan…

Viêm gan E lây không? Đây là một bệnh truyền nhiễm qua các con đường:
Viêm gan E đa phần có thể tự khỏi nhưng nhiều trường hợp có thể gặp các biến chứng gan nguy hiểm như viêm gan mạn, xơ gan, ung thư gan. Phụ nữ mang thai có nhiều khả năng mắc bệnh nặng hơn, bao gồm viêm gan kịch phát và tử vong. Tỷ lệ tử vong lên tới 10% – 30% ở phụ nữ mang thai trong ba tháng cuối thai kỳ.(2)
Viêm gan E cũng có thể gây ra những mối đe dọa sức khỏe nghiêm trọng đối với những người mắc bệnh gan mãn tính từ trước và những người được ghép tạng đang điều trị bằng liệu pháp ức chế miễn dịch, dẫn đến bệnh gan mất bù và tử vong.
Chế độ dinh dưỡng tốt giúp quá trình phục hồi sau viêm gan E tốt hơn. Người bệnh nên:

Bên cạnh đó, người bệnh cũng có thể bổ sung các dưỡng chất từ thiên nhiên như Wasabia và S. Marianum có tác dụng hỗ trợ kiểm soát tế bào Kupffer để hạn chế sản xuất các chất gây viêm, giúp bảo vệ tế bào và chức năng gan.
Bạn nên chủ động đến bệnh viện kiểm tra nếu đang sống hoặc du lịch đến các vùng lưu hành dịch viêm gan E. Bạn cũng nên kiểm tra nếu có các triệu chứng nghi ngờ. Thăm khám sức khỏe định kỳ hằng năm, tốt nhất 6 tháng một lần là cần thiết để phòng ngừa viêm gan E nói riêng và các bệnh về gan nói chung.
Viêm gan E có thể tự khỏi sau 2 – 6 tuần không cần điều trị, mặc dù vậy người bệnh vẫn nên chủ động đến bệnh viện thăm khám và điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ. Vì virus HEV có thể gây biến chứng viêm gan nghiêm trọng đặc biệt ở phụ nữ mang thai và người suy giảm miễn dịch hoặc đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch do phẫu thuật, ghép tạng.