Sắc tố da có nghĩa là màu da và nó có thể bị rối loạn trên một vùng hoặc toàn bộ cơ thể. Khi bệnh này xảy ra da sẽ không còn đều màu và bạn dễ dàng nhận thấy những mảng đậm hơn so hoặc những mảng nhạt hơn so với nền da cũ. Cùng ECO Pharma tìm hiểu xem bệnh rối loạn sắc tố da là gì, có nguy hiểm không và một số vấn đề liên quan trong bài viết sau.

Rối loạn sắc tố da là tình trạng da bị thay đổi màu sắc bất thường do mất cân bằng sản xuất hoặc phân bố melanin. Đây là sắc tố quyết định màu da, tóc, mắt và có vai trò bảo vệ DNA trong các tế bào khỏi tác hại của ánh nắng mặt trời. Tình trạng này có thể là sản sinh melanin quá mức, biểu hiện qua các tình trạng phổ biến như nám, tàn nhang, tăng sắc tố da sau viêm; Hoặc giảm, mất melanin, biểu hiện qua các tình trạng như bạch biến, bạch tạng. (1)
Có hơn 125 gen được biết là ảnh hưởng đến sắc tố da. Cùng với hormone, gen chịu trách nhiệm điều chỉnh quá trình sản xuất hai loại melanin là eumelanin (màu nâu, đen) và pheomelanin (màu vàng, đỏ) cũng như khả năng tồn tại của chúng. Điều này dẫn đến sự thay đổi màu da theo thời gian.
Tăng sắc tố, giảm sắc tố và rối loạn sắc tố hỗn hợp đều gây đổi màu da, cụ thể:
Tăng sắc tố da xảy ra khi melanin sản xuất hoặc lắng đọng quá mức dẫn đến các mảng da sẫm màu hơn bình thường. Tùy thuộc vào màu da những vùng bị tăng sắc tố có thể có màu nâu, hồng, xám, đen hoặc thậm chí là màu tím. Trái ngược với tình trạng rám nắng xuất hiện rồi biến mất, tăng sắc tố da thường tồn tại lâu dài.
Tăng sắc tố da phổ biến nhất là tàn nhang, nám, đồi mồi, quầng thâm mắt, bệnh gai đen và tăng sắc tố sau viêm. Trong đó tàn nhang có dạng đốm nhỏ, phẳng, màu nâu nhạt, kích thước <1cm tồn tại trên các vùng da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời như má và mũi, thường xuất hiện từ thời thơ ấu, có xu hướng tăng dần theo tuổi tác; Đồi mồi có dạng đốm nâu, đường kính đa dạng, xuất hiện phổ biến trên mặt và mu bàn tay, thường thấy ở những người trên 40 tuổi; Nám da có dạng các mảng nâu trên má và trán, thái dương, sống mũi, thường thấy ở tuổi trưởng thành đặc biệt trong thai kỳ, tiền mãn kinh và mãn kinh.
Giảm sắc tố da xảy ra khi số lượng melanocyte (tế bào biểu bì tạo sắc tố) giảm hoặc chức năng sản xuất melanin suy giảm dẫn đến da nhạt màu hơn hoặc trắng hoàn toàn như trong bạch biến, bạch tạng. Tình trạng này thường khó điều trị và ảnh hưởng thẩm mỹ rõ rệt.
Bạch tạng là một rối loạn di truyền hiếm gặp, làm giảm lượng sắc tố melanin trong da, tóc và mắt. Người mắc bệnh này có tóc trắng, da nhợt nhạt và mắt hồng hoặc xanh. Trong khi đó bệnh bạch biến là do mất các tế bào sản sinh sắc tố trong da (tế bào hắc tố) gây ra các mảng trắng mịn làm da loang lổ. Các mảng trắng này rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời.
Bệnh sắc tố hỗn hợp (dyschromatosis) là nhóm rối loạn sắc tố đặc trưng bởi sự xuất hiện đồng thời các mảng tăng sắc tố và giảm sắc tố nhỏ bằng đầu kim đến hạt đậu xen kẽ nhau tạo thành hình dạng mạng lưới. Có hai loại rối loạn sắc tố hỗn hợp là loạn sắc tố di truyền toàn thể (DUH) và loạn sắc tố đối xứng di truyền (DSH, còn gọi là sắc tố đối xứng đầu chi Dohi).
Bệnh này thường có tính chất di truyền, chủ yếu theo kiểu gen trội trên nhiễm sắc thể thường; trong đó đột biến gen ADAR1 hoặc DSRAD đã được phát hiện liên quan đến DSH. (2)
Tiếp xúc với ánh nắng, thay đổi nội tiết tố, tổn thương da,… là những nguyên nhân khiến một người bị rối loạn sắc tố da, cụ thể dưới đây.
Tia cực tím (UVA, UVB) từ ánh nắng kích thích tăng sản sinh melanin để bảo vệ da gây ra nám, tàn nhang, đồi mồi và lão hóa sớm. Việc tiếp xúc kéo dài với ánh nắng mà không bảo vệ có thể khiến các tình trạng này tiến triển nặng hơn. Ngay cả việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trong thời gian ngắn cũng có thể kích hoạt quá trình sản sinh melanin dư thừa, đặc biệt là ở những người dễ bị nám.

Hormone sinh dục nữ estrogen và progesterone có thể gây ra tình trạng sản xuất quá mức melanin. Các loại hormone này tăng khi mang thai, dùng thuốc tránh thai, dùng liệu pháp hormone,… là yếu tố quan trọng khởi phát nám da, đây là một dạng tăng sắc tố mạn hay gặp ở nữ. Ngoài ra rối loạn tuyến giáp cũng có thể gây biến động nội tiết tố dẫn đến làn da bị tăng sắc tố.
Mụn trứng cá, viêm da, bỏng, thủ thuật thẩm mỹ,… có thể gây ra tăng hoặc giảm sắc tố sau viêm (PIH/PIL) do rối loạn điều hòa melanin tại chỗ. Các vết cắt, vết trầy xước và các vết thương khác có thể bị nhiễm trùng khi vi khuẩn xâm nhập dẫn đến thay đổi kết cấu da. Vùng da xung quanh cũng có thể chuyển sang màu đỏ hoặc trắng và vết thương có thể bị tiết dịch.
Theo tuổi tác số lượng tế bào melanocyte giảm và melanin phân bố kém đồng nhất tạo nên đồi mồi và sạm không đều, đây là dạng rối loạn sắc tố liên quan lão hóa. Một yếu tố khác, di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ nhạy cảm với các vấn đề về sắc tố của một người. Nếu gia đình có tiền sử tăng sắc tố hoặc nám da sẽ có nhiều khả năng di truyền cho con cháu.
Nhiễm nấm Tinea versicolor sẽ làm xuất hiện mảng da nhạt/đậm màu không đều. Bệnh hắc lào, lang ben và candida cũng có thể gây ra các mảng da đổi màu trên nhiều bộ phận cơ thể. Ngoài ra nhiều rối loạn da miễn dịch, tình trạng viêm khác cũng gây biến đổi sắc tố da kéo dài. Bên cạnh đó một số loại thuốc, bao gồm thuốc kháng sinh, thuốc chống động kinh có thể làm tăng độ nhạy cảm của da với ánh sáng mặt trời và thúc đẩy sắc tố.
Da bị rối loạn sắc tố được nhận biết qua sự thay đổi màu da bất thường so với vùng da xung quanh. Các dấu hiệu nổi bật dễ nhận biết là:



Phần lớn các trường hợp da bị rối loạn sắc tố đều lành tính, chủ yếu gây ảnh hưởng về tâm lý và thẩm mỹ, không đe dọa trực tiếp đến tính mạng. Tuy nhiên một số thể bệnh đặc thù có thể tiềm ẩn nhiều nguy cơ hơn như:
Việc chẩn đoán da bị rối loạn sắc tố dựa trên sự kết hợp giữa thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng để xác định chính xác dạng bệnh, nguyên nhân và loại trừ tổn thương ác tính. Đầu tiên bác sĩ cần khai thác bệnh sử, thăm khám da liễu, quan sát màu sắc, ranh giới và phân bố tổn thương để định hướng tăng hay giảm sắc tố. Bác sĩ cũng tìm hiểu về thời điểm khởi phát, tiến triển, các tình trạng viêm, sử dụng thuốc hoặc thủ thuật người bệnh đã thực hiện.
Các thiết bị như đèn Wood và dermoscopy giúp xác định độ sâu và mức độ melanin. Soi tươi KOH được thực hiện khi cần loại trừ lang ben hoặc các nhiễm nấm sắc tố khác. Bác sĩ có thể thực hiện sinh thiết da khi nghi ngờ ác tính, nhằm phân biệt với u hắc tố hoặc các bệnh lý sắc tố hiếm gặp. Trong một số trường hợp như như bạch biến có thể kèm xét nghiệm chức năng tuyến giáp hoặc kháng thể tự miễn để phát hiện bệnh liên quan.
Điều trị rối loạn sắc tố phụ thuộc vào nguyên nhân, mức độ và loại tổn thương. Bác sĩ có thể phối hợp nhiều phương pháp để đạt hiệu quả tối ưu và giảm nguy cơ tái phát.
Thuốc là lựa chọn đầu tiên trong hầu hết các trường hợp giúp điều chỉnh sự tổng hợp và phân bố melanin.
Khi thuốc đơn thuần chưa đáp ứng, những kỹ thuật hiện đại có thể được phối hợp để tăng hiệu quả.

Bạn có thể ngăn ngừa phần nào hiện tượng rối loạn sắc tố thông qua việc thực hiện kết hợp một số điều dưới đây:
Đối với các tình trạng rối loạn sắc tố có tính chất di truyền thì không có cách nào để phòng ngừa. Điều quan trọng là người mẹ cần chăm sóc thai kỳ thật tốt để giảm nguy cơ mắc bệnh cho con sau khi chào đời.
Tóm lại rối loạn sắc tố da là một nhóm các bệnh lý phức tạp, từ nám da, tàn nhang đến bạch biến, bạch tạng có thể ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý và chất lượng sống của người bệnh. Điều quan trọng là cần tìm đến sự tư vấn của bác sĩ da liễu để có phác đồ điều trị cá nhân hóa. Bổ sung các tinh chất thiên nhiên như Sakura, Marine Collagen Peptide, L-Glutathione, Pomegranate, White Peony, P.Leucotomos,…có thể hỗ trợ tốt cho quá trình phục hồi da sau điều trị. Chúng đã được chứng minh và hiệu quả và độ an toàn khi dùng lâu dài.