Cơ thể người có ba loại mô trong đó mô cơ tim đặc biệt hơn cả vì nó chỉ tồn tại ở một cơ quan duy nhất đó là trái tim. Nó có vai trò quan trọng đối với các hoạt động sinh tồn của tim nhưng thật không may nó cũng có thể bị dị tật bẩm sinh hoặc mắc bệnh dẫn đến tuổi thọ bị rút ngắn. Hiểu về mô cơ tim trong giải phẫu cơ tim vì vậy có thể giúp mọi người bảo vệ sức khỏe tim mạch tốt hơn, mời bạn cùng ECO Pharma theo dõi bài viết sau đây.

Mô cơ tim (còn gọi là cơ tim) là một trong ba loại mô cơ trong cơ thể (hai loại còn lại là mô cơ vân và mô cơ trơn). Cơ tim là lớp giữa dày của tim được bao quanh bởi một lớp ngoài mỏng gọi là thượng tâm mạc và lớp trong cùng là nội tâm mạc. Trong thai kỳ nó bắt đầu phát triển ở tuần thứ hai.
Chỉ có mô cơ tim, bao gồm các tế bào gọi là tế bào cơ tim (myocyte) mới có trong tim, thực hiện các hoạt động phối hợp cao độ giúp tim bơm máu và lưu thông máu khắp cơ thể. Cơ tim co bóp tiêu tốn rất nhiều năng lượng do đó cần dòng máu liên tục để cung cấp oxy và chất dinh dưỡng. Máu được đưa đến cơ tim bởi các động mạch vành sau đó được dẫn lưu bởi các tĩnh mạch vành vào tâm nhĩ phải. (1)

Tương tự như cơ vân, cơ tim cũng có vân và được tổ chức thành các sarcomere, sở hữu cấu trúc vân tương tự như cơ vân. Cấu tạo mô cơ tim như sau: (2)
Cơ tim chịu trách nhiệm cho khả năng co bóp của tim, tức thực hiện chức năng bơm máu. Cơ tim phải co bóp đủ mạnh và bơm đủ máu để đáp ứng nhu cầu chuyển hóa của toàn bộ cơ thể. Khái niệm này được gọi là cung lượng tim và được định nghĩa là nhịp tim nhân với thể tích nhát bóp; được xác định bởi lực co bóp của cơ tim và tần số hoạt động của chúng. Khi nhu cầu chuyển hóa thay đổi, khả năng co bóp của tim cũng thay đổi.
Cơ tim hoạt động để giữ cho tim đập thông qua các chuyển động không tự chủ. Đây là một đặc điểm phân biệt nó với mô cơ xương, loại mô mà bạn có thể điều khiển. Cơ tim thực hiện điều này thông qua các tế bào chuyên biệt gọi là tế bào tạo nhịp. Những tế bào này kiểm soát sự co bóp của tim. Hệ thần kinh gửi tín hiệu đến các tế bào tạo nhịp để điều khiển chúng làm tăng hoặc giảm nhịp tim. Các tế bào tạo nhịp được kết nối với các tế bào cơ tim khác cho phép chúng truyền tín hiệu. Điều này dẫn đến một loạt các cơn co bóp của cơ tim, tạo ra nhịp tim. Cơ chế đằng sau mỗi lần co bóp phối hợp liên quan đến cơ tim và các xung điện. Các chức năng co bóp này của tim cần năng lượng dưới dạng adenosine triphosphate (ATP) có thể thu được thông qua nhiều chất khác nhau bao gồm axit béo, carbohydrate, protein và ketone.
Sự linh hoạt và sức mạnh của cơ tim đến từ các tế bào và sợi cơ tim liên kết với nhau. Hầu hết các tế bào cơ tim chứa 1 nhân và một số có 2 nhân. Các tế bào cơ tim cũng chứa ty thể gọi là “nhà máy năng lượng của tế bào”. Đây là những bào quan chuyển glucose và oxy thành ATP.
Tế bào cơ tim dưới kính hiển vi xuất hiện vân hoặc sọc do các sợi xen kẽ (bao gồm các protein myosin và actin). Các sọc đen biểu thị các sợi dày gồm các protein myosin; các sợi mỏng, nhẹ hơn chứa actin. Khi một tế bào cơ tim co lại sợi myosin sẽ kéo các sợi actin về một phía làm tế bào co lại. Tế bào dùng adenosine triphosphate để cung cấp năng lượng cho sự co bóp này. Chỉ có 1 sợi myosin kết nối với 2 sợi actin ở hai bên. Điều này tạo thành một đơn vị mô cơ duy nhất, gọi là sarcomere (đơn vị tơ cơ).
Vạch bậc thang kết nối các tế bào cơ tim. Các liên kết khe bên trong các vạch bậc thang chuyển tiếp các xung điện từ tế bào cơ tim này đến tế bào cơ tim khác. Thể liên kết là các cấu trúc khác có trong các vạch bậc thang, giúp giữ các sợi cơ tim lại với nhau.

Nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim, bệnh cơ tim giãn nở,… là một số bệnh lý ở cơ tim, cụ thể như sau.
Nhồi máu cơ tim xảy ra khi lượng máu đến tim bị giảm hoặc tắc nghẽn. Sự tắc nghẽn xảy ra khi các mảng bám chất béo tích tụ trong thành động mạch cung cấp máu cho tim dẫn đến việc cung cấp oxy cho cơ tim không đủ. Nếu lưu lượng máu không được phục hồi kịp thời, mô tim sẽ chết. Nam giới từ 45 tuổi trở lên và nữ giới từ 55 tuổi trở lên có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cao hơn so với người trẻ tuổi.
Viêm cơ tim là tình trạng viêm ở cơ tim làm giảm khả năng bơm máu của tim gây đau ngực, khó thở, nhịp tim nhanh hoặc không đều. Nhiễm virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm,… là những nguyên nhân gây ra bệnh này. Viêm cơ tim nặng làm suy yếu tim khiến các bộ phận còn lại của cơ thể không nhận đủ máu. Cục máu đông có thể hình thành trong tim gây ra đột quỵ hoặc đau tim. Các nhà nghiên cứu ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 1,5 triệu trường hợp viêm cơ tim (cứ 100.000 người thì có từ 10 đến 20 người mắc bệnh).
Bệnh cơ tim (Cardiomyopathy) khiến tim phải hoạt động nhiều hơn để bơm máu đến phần còn lại của cơ thể dẫn đến các triệu chứng suy tim và một số bệnh tim nghiêm trọng khác. Các loại bệnh cơ tim bao gồm:
Bên cạnh đó bệnh cơ tim không được phân loại là:

Tập các bài tập aerobic thường xuyên có thể giúp tăng cường cơ tim, giữ cho tim và phổi khỏe mạnh. Bởi các bài tập aerobic liên quan đến việc vận động các nhóm cơ xương lớn sẽ làm cho nhịp tim và nhịp thở nhanh hơn. Một số ví dụ về aerobic chẳng hạn như bài tập chạy bộ, đi bộ, leo núi, đạp xe, khiêu vũ, bơi lội, nhảy dây, leo cầu thang. Hiệp hội Tim mạch Mỹ (American Heart Association) khuyến nghị các bệnh nhân nên có ít nhất 150 phút tập thể dục vừa phải mỗi tuần. Để đạt được mục tiêu này hãy cố gắng tập khoảng 30 phút mỗi ngày, năm ngày một tuần. (3)
Bên cạnh việc chú ý đến hoạt động thể chất những lưu ý sao đây cũng giúp cho bạn duy trì sức khỏe của cơ tim tốt hơn.
Việc áp dụng những thói quen sinh hoạt này giúp tăng cường cơ tim, cải thiện chức năng tim và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch từ đó góp phần kéo dài tuổi thọ và sức khỏe tốt hơn.
Hiểu rõ đặc điểm và chức năng của mô cơ tim giúp chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của việc chăm sóc, cải thiện sức khỏe tim mạch. Vì vậy việc duy trì lối sống lành mạnh, chế độ dinh dưỡng hợp lý và kiểm tra sức khỏe định kỳ là cách tốt nhất để bảo vệ cơ tim và toàn bộ hệ tim mạch. Bổ sung nhóm tinh chất hỗ trợ tim mạch là Policosanol (GDL-5), Red Yeast Rice, Gynostemma, Apple Cider Vinegar,… sẽ giúp giảm cholesterol xấu, điều hòa mỡ máu, hỗ trợ ngăn ngừa xơ vữa động mạch, hình thành cục máu đông từ đó phòng ngừa các bệnh tim mạch hiệu quả.