Nhồi máu cơ tim là một tình trạng có thể đe dọa tính mạng. Hơn 90% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tính gặp phải một số loại rối loạn nhịp tim. (1) Cùng ECO Pharma tìm hiểu về nhịp tim trong cơn nhồi máu cơ tim sau đây.

Nhồi máu cơ tim (myocardial infarction) là tình trạng lượng máu đến một phần cơ tim bị giảm hoặc ngừng hoàn toàn do huyết khối gây tắc nghẽn động mạch vành. Sự giảm lưu lượng máu này có thể bắt đầu gây tổn thương cơ tim chỉ trong vài phút. Việc thiếu oxy này dẫn đến sự phân hủy cơ tim ở cấp độ tế bào. Đây là một biến cố nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong nếu không xử lý kịp thời. (2)
Khi cơn nhồi máu cơ tim xảy ra, nhịp tim có thể thay đổi theo nhiều cách khác nhau. Điều này tùy thuộc vào vị trí tổn thương, mức độ thiếu máu cơ tim, tình trạng bệnh nền và các loại thuốc bệnh nhân đang sử dụng,… nhịp tim có thể tăng nhanh, chậm lại hoặc không thay đổi rõ rệt.
Nhịp tim là số lần tim đập mỗi phút. Nhịp tim nghỉ ngơi điển hình của người trưởng thành là từ 60 đến 100 nhịp mỗi phút. Nhìn chung nhịp tim càng nhanh thì tim càng bơm máu càng kém hiệu quả. Nhịp tim tại thời điểm điều trị có thể là một chỉ báo về khả năng phục hồi sau cơn nhồi máu cơ tim. Ví dụ một nghiên cứu cho thấy những người có nhịp tim trên 80 nhịp/phút tại thời điểm điều trị có nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim cao hơn. Tuy nhiên theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ, nhịp tim nhanh không phải lúc nào cũng là dấu hiệu hoặc triệu chứng của nhồi máu cơ tim. (3)
Về cơ chế gây rối loạn nhịp tim trong cơn nhồi máu, một số loại nhồi máu động mạch vành phải có thể ảnh hưởng đến hệ thống điện của tim và gây ra nhịp tim chậm trong cơn nhồi máu cơ tim. Ngoài ra tác dụng phụ của một số loại thuốc và một số bệnh lý có thể ảnh hưởng đến nhịp tim trong cơn nhồi máu cơ tim theo nhiều cơ chế khác nhau. Cụ thể là:
Tác dụng phụ của thuốc
Trong quá trình điều trị nhồi máu cơ tim, một số loại thuốc được sử dụng để kiểm soát nhịp tim, giảm gánh nặng cho tim. Tuy nhiên chính những thuốc này cũng có thể ảnh hưởng đến nhịp tim theo nhiều cách khác nhau như:
Tình trạng bệnh lý
Những bệnh lý có sẵn hoặc xuất hiện đồng thời với nhồi máu cơ tim cũng có thể làm biến đổi nhịp tim theo nhiều cách như:

Rung thất, nhịp nhanh thất, block nhĩ – thất,… là một số loại rối loạn nhịp tim thường gặp trong nhồi máu cơ tim, cụ thể sau đây.
Rung thất là tình trạng rối loạn nhịp tim cấp cứu khiến tim không bơm máu được. Quá trình rung thất xảy ra khi tín hiệu điện trong tim bị rối loạn gây ngưng tim đột ngột. Nhồi máu cơ tim cấp (AMI) gây ra nhiều thay đổi điện sinh lý, tạo ra các yếu tố khởi phát và thúc đẩy loạn nhịp tim, có thể gây ra và duy trì rung thất (VF). Trong giai đoạn đầu của bệnh, rung thất là nguyên nhân thường gặp gây đột tử do tim (SCD), thường xảy ra trong vòng vài phút sau khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng, thậm chí trước khi bệnh nhân kịp liên hệ với bệnh viện. Các rối loạn nhịp thất gây tử vong như rung thất trước khi nhập viện đã được báo cáo xảy ra ở hơn 10% tổng số ca nhồi máu cơ tim cấp và tỷ lệ sống sót ở những trường hợp này rất thấp.
Nhịp nhanh thất (VA) là tình trạng loạn nhịp tim nhanh xuất phát từ buồng tâm thất của tim. Nhịp tim nhanh thất xảy ra ở 10% đến 40% bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp tính. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhịp nhanh thất trong giai đoạn đầu của bệnh có liên quan đến tổn thương cơ tim đáng kể. Nó cũng liên quan đến việc tăng tỷ lệ tử vong trong bệnh viện, do đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều trị tích cực sớm. Nhịp nhanh thất xảy ra muộn thường gặp hơn ở nhồi máu xuyên thành và liên quan đến 40% đến 50% tỷ lệ tử vong trong bệnh viện. Nhịp nhanh thất liên quan đến nhồi máu cơ tim là nguyên nhân chính gây ngừng tim.
Block nhĩ – thất là tình trạng tắc nghẽn chỉ một phần hoặc hoàn toàn dẫn truyền xung động từ tâm nhĩ xuống tâm thất, khiến nhịp tim chậm. Block nhĩ – thất hoàn toàn (CAVB) là biến chứng thường gặp của nhồi máu cơ tim cấp và tỷ lệ mắc CAVB là 3% đến 11%. Block nhĩ – thất hoàn toàn có thể xảy ra ở người bệnh nhồi máu cơ tim ST chênh lên (STEMI). Tình trạng này phổ biến hơn ở bệnh nhân STEMI thành dưới. Người bị STEMI mắc CAVB có tỷ lệ tử vong cao hơn bất kể vị trí nhồi máu của họ trong thời kỳ dùng thuốc tiêu sợi huyết.
Ngoại tâm thu thất là tình trạng nhịp tim đập quá sớm do tâm thất tự động phát nhịp, làm rối loạn nhịp bình thường của tim. Ngoại tâm thu thất thường gặp ở người bị nhồi máu cơ tim và thường không phát triển thành rung thất.

Rung nhĩ (AF) là một trong những hiện tượng loạn nhịp tim thường gặp nhất, gây ra rối loạn nhịp tim nhanh và không đều tại tâm nhĩ. Rung nhĩ xảy ra ở 6% đến 21% bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim. Ngoài ra sự hiện diện của rung nhĩ trong nhồi máu cơ tim cấp có liên quan đến việc tăng nguy cơ tái nhồi máu trong bệnh viện. Bệnh nhân mắc cả rung nhĩ và nhồi máu cơ tim có nguy cơ đột quỵ, suy tim và tử vong cao hơn so với những người mắc riêng một trong hai tình trạng này.
Cuồng nhĩ là một dạng rối loạn nhịp tim xảy ra khi tâm nhĩ bị kích thích quá mức. Tần số kích thích nhĩ có thể lên đến khoảng 300 lần mỗi phút. Lúc này nhịp tim có thể lên đến 120 – 150 lần/phút, cao hơn nhiều so với nhịp tim bình thường (dao động từ 60 đến 100 lần/phút). Cuồng nhĩ chiếm tỉ lệ khoảng 5% ở người bị nhồi máu cơ tim, thường thoáng qua, do hoạt động giao cảm của tâm nhĩ bị kích thích quá mức.
Ngoài yếu tố tác dụng phụ của thuốc và các tình trạng bệnh lý đi kèm như đã đề cập, một số yếu tố khác từ thói quen sinh hoạt và môi trường sống cũng góp phần tác động đến nhịp tim khi bị nhồi máu cơ tim, bao gồm:
Nhịp tim trong cơn nhồi máu cơ tim là một biểu hiện lâm sàng không thể được dự đoán chính xác, vì nhịp tim của người bệnh chịu ảnh hưởng đồng thời từ nhiều yếu tố sinh lý và bệnh lý phức tạp. Tùy thuộc vào các yếu tố như vị trí và mức độ tắc nghẽn động mạch vành, vùng cơ tim bị tổn thương có thể tác động đến hệ thống dẫn truyền điện tim theo các cách khác nhau gây ra nhịp chậm, nhanh hoặc loạn nhịp. Bên cạnh đó, phản ứng của hệ thần kinh tự động, mức độ đau, tâm lý và các bệnh lý nền kèm theo cũng có thể góp phần làm thay đổi nhịp tim một cách khó lường.

Rối loạn nhịp tim trong nhồi máu cơ tim có thể được điều trị bằng nhiều phương pháp. Ví dụ ngoại thu tâm thất có thể được ưu tiên điều trị bằng lidocaine truyền tĩnh mạch. Đối với nhịp nhanh thất có triệu chứng và rung thất hoặc cuồng thất, bắt buộc phải khử rung tim bằng sốc điện ngay lập tức. Khía cạnh điều trị quan trọng nhất của loạn nhịp trên thất là kiểm soát tần số thất. Nhịp nhanh phải được làm chậm lại bằng thuốc hoặc tạo nhịp nhĩ, khử rung tim.
Nhịp tim chậm nên được điều trị bằng atropine sulfat, isoproterenol hydrochloride và tạo nhịp nhân tạo nếu cần thiết. Điều trị block nhĩ – thất trong nhồi máu cơ tim cấp phụ thuộc vào vị trí block nhĩ – thất, vị trí nhồi máu và tình trạng huyết động. Nhìn chung, block nhĩ – thất liên quan đến nhồi máu cơ tim thành dưới và tình trạng huyết động bất thường thường cần đặt máy tạo nhịp tim. Ngược lại bệnh nhân nhồi máu cơ tim thành trước và block nhĩ – thất độ 2 Mobitz II hoặc độ 3 nên được điều trị bằng cách đặt máy tạo nhịp tim tạm thời cấp cứu. (4)
Tóm lại rối loạn nhịp tim trong cơn nhồi máu cơ tim có thể dẫn đến tiên lượng xấu hơn. Người bệnh cần được cấp cứu đến bệnh viện càng sớm càng tốt. Sau điều trị, cần tiếp tục dùng thuốc, ăn uống, tập luyện, tái khám,… theo hướng dẫn. Tham khảo ý kiến của bác sĩ để bổ sung thêm tinh chất hỗ trợ tim mạch là Policosanol (GDL-5), Red Yeast Rice, Gynostemma, Apple Cider Vinegar. Chúng là các tinh chất thiên nhiên đã được chứng minh giúp giảm cholesterol xấu, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, cục máu đông, hỗ trợ kiểm soát tim mạch hiệu quả.