Gan đảm nhiệm nhiều chức năng thiết yếu như thanh lọc máu, tạo protein, sản xuất mật và dự trữ năng lượng. Khi viêm xảy ra, chức năng gan bị cản trở, ảnh hưởng đến sức khỏe. Hãy cùng ECO Pharma tìm hiểu các loại viêm gan phổ biến và cách phòng ngừa hiệu quả.

Có nhiều loại viêm gan khác nhau, nhưng phổ biến nhất là do virus gây ra. Có 3 loại viêm gan do virus chính là viêm gan A , B và C. Viêm gan C nặng hơn và nguy hiểm nhất. Có đến 5% số người mắc viêm gan C sẽ chết vì xơ gan hoặc ung thư gan. Có 19.600 ca tử vong do viêm gan C vào năm 2014, so với khoảng 1.800 ca tử vong do viêm gan B. Viêm gan A hiếm khi gây tử vong.(1)
Viêm gan là thuật ngữ chung dùng để mô tả tình trạng viêm của gan. Viêm gan có thể do một số loại virus (viêm gan siêu vi), thuốc, rượu, hóa chất, một số rối loạn di truyền hoặc do hệ miễn dịch hoạt động quá mức tấn công nhầm vào gan. Trong đó, viêm gan do rượu, viêm gan siêu vi A, B, C,… là những loại viêm gan thường gặp nhất.
Viêm gan do rượu là tình trạng viêm gan do uống rượu quá nhiều và kéo dài. Rượu làm tổn thương tế bào gan dẫn đến viêm và trong trường hợp nghiêm trọng là xơ gan. Gan mắc phải loại viêm này có thể hồi phục nếu ngừng uống rượu. Việc điều trị thường bao gồm kiêng rượu, dinh dưỡng hợp lý và các biện pháp chăm sóc hỗ trợ.
Viêm gan tự miễn là tình trạng hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công nhầm vào các tế bào gan dẫn đến viêm gan và tổn thương gan. Nguyên nhân chính xác của bệnh viêm gan tự miễn vẫn chưa được biết rõ, nhưng người ta tin rằng nó liên quan đến sự kết hợp của các yếu tố di truyền và môi trường. Bệnh này thường gặp hơn ở phụ nữ và thường cần phải điều trị lâu dài bằng thuốc ức chế miễn dịch.
Có năm loại viêm gan siêu vi là A, B, C, D và E. Mỗi loại do một loại virus viêm gan khác nhau gây ra. Trên thế giới, có khoảng 354 triệu người đang sống chung với bệnh viêm gan B hoặc C.(2)
Viêm gan A lây qua thực phẩm và nước uống bị nhiễm virus có tên HAV. Virus này cũng có thể bị lây bởi tiếp xúc qua đường hậu môn – miệng khi quan hệ tình dục. Mặc dù virus viêm gan A có thể gây viêm gan nhưng không dẫn đến bệnh mãn tính. Hầu như tất cả những người mắc bệnh viêm gan A đều hồi phục hoàn toàn. Hiện nay, có vắc xin phòng bệnh viêm gan A cho trẻ em và người lớn. Việc vệ sinh tốt và rửa tay thường xuyên giúp làm giảm nguy cơ nhiễm virus viêm gan A.

Viêm gan B là bệnh do virus HBV gây ra. Virus này lây lan qua tiếp xúc với máu, tinh dịch, dịch âm đạo hoặc chất dịch cơ thể khác của người bị nhiễm bệnh. Trong một số trường hợp, siêu vi viêm gan B gây tổn thương gan nghiêm trọng và có thể dẫn đến ung thư. Ở một số người không thể điều trị được virus, bệnh sẽ trở thành mãn tính hoặc suốt đời.
Viêm gan C là bệnh do virus HCV gây ra. Đây có thể được xem là loại viêm gan nguy hiểm nhất. Tại Mỹ, HCV gây ra tử vong nhiều hơn bất kỳ loại bệnh truyền nhiễm nào khác. Viêm gan C có cách lây lan giống như viêm gan B, thông qua tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể khác của người bị nhiễm bệnh, gồm cả lây lan qua quan hệ tình dục.
Viêm gan D do virus HDV gây ra. Một người chỉ có thể bị viêm gan D nếu đã bị nhiễm viêm gan B. Bệnh này lây lan qua tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh, kim tiêm có HDV và quan hệ tình dục không an toàn với người bị nhiễm virus HDV. Cách tốt nhất để ngăn ngừa nhiễm viêm gan D là tránh tiếp xúc với máu và chất dịch cơ thể và tiêm vắc xin để ngăn ngừa viêm gan B.
Viêm gan E do virus HEV gây ra. Một người có thể bị nhiễm virus này qua thực phẩm hoặc nước bị nhiễm virus. Nó cũng có thể lây lan qua tiếp xúc miệng – hậu môn. Loại viêm gan này gây viêm gan nhưng thường không gây tổn thương lâu dài. Những người đang mang thai hoặc bị suy giảm miễn dịch có nguy cơ bị tổn thương gan cao hơn. Không có vắc xin cho loại virus này.

Tùy thuộc vào thời gian kéo dài của bệnh, viêm gan được chia thành cấp tính (bùng phát đột ngột rồi biến mất) hoặc mãn tính (tình trạng lâu dài thường gây ra các triệu chứng khó nhận biết hơn).
Viêm gan được phân loại là cấp tính hoặc mãn tính dựa trên thời gian viêm và tổn thương nhu mô gan.
Viêm gan cấp tính là thuật ngữ dùng để mô tả tình trạng viêm cấp tính ở nhu mô gan. Nếu thời gian viêm hoặc tổn thương tế bào gan kéo dài dưới sáu tháng, xác định bởi sự bình thường hóa các xét nghiệm chức năng gan thì được gọi là viêm gan cấp tính.
Nguyên nhân phổ biến nhất của viêm gan cấp tính là do nhiễm virus (viêm gan siêu vi cấp tính). Tuy nhiên, viêm gan cấp tính có thể do nhiều nguyên nhân không nhiễm trùng như viêm gan do thuốc, rượu, tự miễn dịch, rối loạn chức năng gan liên quan đến thai kỳ hoặc bệnh di căn.

Nếu tình trạng viêm hoặc tổn thương tế bào gan kéo dài hơn sáu tháng thì được gọi là viêm gan mạn tính. Virus viêm gan B và virus viêm gan C là nguyên nhân thường gặp gây viêm gan mạn tính. 5% – 10% trường hợp nhiễm viêm gan B có hoặc không đồng nhiễm virus viêm gan D và khoảng 75% trường hợp nhiễm viêm gan C trở thành mạn tính. Tỷ lệ viêm gan B mạn tính ở trẻ em cao hơn (90% trẻ sơ sinh và 25% – 50% ở trẻ nhỏ).(3)
Ngoài ra, viêm gan nhiễm mỡ không do rượu, bệnh gan do rượu và bệnh viêm gan tự miễn cũng là những nguyên nhân gây ra viêm gan mãn tính.
Bệnh viêm gan thường có những dấu hiệu không đặc trưng hoặc có thể không có triệu chứng nào. Thường chỉ sau khi bệnh đã tiến triển mới xuất hiện các triệu chứng và người bệnh mới cảm thấy được:
Viêm gan cấp tính đa số đều phục hồi. Viêm gan mạn tính tùy theo từng nguyên nhân cụ thể, chỉ định điều trị có thể bằng thuốc hoặc đơn thuần là ngưng tiếp xúc với các tác nhân gây viêm gan như nấm, rượu, thuốc.
Điều trị viêm gan do rượu chủ yếu là điều trị hỗ trợ bù dịch và vitamin, bỏ rượu, chế độ ăn uống lành mạnh. Những trường hợp bị tổn thương gan nặng do rượu, bác sĩ sẽ dựa vào thang điểm đánh giá để xem xét điều trị corticosteroid nếu không chống chỉ định.
Trong điều trị viêm gan tự miễn, mục tiêu là giảm triệu chứng và kiểm soát bệnh. Các loại thuốc corticosteroid (như budesonide hoặc prednisone) và thuốc ức chế hệ thống miễn dịch (mycophenolate, azathioprine, cyclosporine, tacrolimus…) sẽ được xem xét sử dụng. Các loại thuốc này sẽ ngăn chặn hoặc làm chậm hệ thống miễn dịch hoạt động quá mức, ngăn ngừa chúng tấn công các tế bào gan.
Các trường hợp tổn thương nghiêm trọng, đe doạ tính mạng như kháng thuốc, bệnh gan giai đoạn cuối, suy gan cấp… chỉ định ghép gan có thể cần thiết. Trong quá trình ghép gan, bác sĩ phẫu thuật sẽ loại bỏ lá gan bị tổn thương và thay thế bằng lá gan khỏe mạnh. Hầu hết gan được cấy ghép đều đến từ những người hiến tặng vừa qua đời, một số ít đến từ những người hiến tặng còn sống.

Có nhiều cách có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh viêm gan:
Xem thêm: Viêm gan B có uống được thuốc tẩy giun không?
Hãy thực hiện các bước phòng ngừa nếu bạn làm việc ở những nơi như viện dưỡng lão, ký túc xá, trung tâm giữ trẻ hoặc nhà hàng, nơi tiếp xúc nhiều với người khác và có nguy cơ lây nhiễm cao.
Hiện có vắc xin phòng bệnh viêm gan A và viêm gan B, không có vắc xin phòng bệnh viêm gan C. Ngoài ra, bạn chỉ có thể bị nhiễm viêm gan D nếu bị viêm gan B nên việc tiêm vắc xin phòng bệnh B cũng sẽ bảo vệ bạn không mắc bệnh viêm gan D. Hiện tại, không có vắc xin chống viêm gan E được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) phê chuẩn.
Bên cạnh đó, bạn có thể bảo vệ gan bằng cách bổ sung tinh chất thiên nhiên như S. Marianum và Wasabia Japonica. Đây là bộ đôi tính chất giúp hỗ trợ kiểm soát hoạt động tế bào Kupffer, giúp hạn chế sản sinh các chất gây viêm như Leukotriene, Interleukin, TNF-α, TGF-β… Nhờ đó, làm giảm tổn thương tế bào gan và tăng cường quá trình giải độc của gan, hỗ trợ hạ men gan, giảm viêm gan và phòng ngừa xơ hóa hiệu quả.
Loại viêm gan nào nghiêm trọng nhất? Loại viêm gan nào không thể chữa khỏi,… là những câu hỏi thường gặp về bệnh viêm gan.
Trong các loại viêm gan siêu vi thì viêm gan C có thể được xem là loại nghiêm trọng nhất và cũng chưa có vắc xin phòng ngừa. Có tới 70% số người nhiễm viêm gan C sẽ mắc bệnh gan mạn tính và có đến 20% số người mắc bệnh xơ gan. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC Mỹ), có khoảng 5% số người mắc bệnh viêm gan C có thể tử vong vì xơ gan hoặc ung thư gan. Nếu không được điều trị, viêm gan có thể dẫn đến nhiều biến chứng khác nhau và ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài.(4)
Hậu quả tiềm ẩn của bệnh viêm gan không được điều trị bao gồm:

Viêm gan B mãn tính không thể chữa khỏi dứt điểm. Hiện nay, các thuốc điều trị bệnh này chỉ làm giảm và khống chế sự nhân lên của virus, không thể tiêu diệt hoàn toàn virus viêm gan B. Vì khi virus viêm gan B xâm nhập vào tế bào gan, đoạn gen của virus này sẽ được phóng thích vào trong nhân của tế bào gan rồi cuộn tròn trong đó. Hiện nay, chưa có loại thuốc nào có thể ngấm vào bên trong nhân của tế bào gan.
Các loại viêm gan do virus gây ra sẽ khác nhau về việc bệnh có thể tự khỏi hoặc có thể được điều trị khỏi hay không:
Nếu xuất hiện triệu chứng làm bạn lo lắng hoặc không biến mất, ngay cả khi dấu hiệu không có vẻ là vấn đề lớn, tốt nhất bạn nên đến bệnh viện thăm khám. Ngoài ra, nếu bạn nghi ngờ mình đã tiếp xúc với virus viêm gan B, hãy liên hệ ngay với cơ sở y tế. Phương pháp điều trị dự phòng trước phơi nhiễm có thể làm giảm nguy cơ nhiễm virus nếu được điều trị trong vòng 24 giờ sau khi tiếp xúc với virus.
Các loại viêm gan khác nhau đều tiềm ẩn những nguy cơ nhất định, ảnh hưởng đến sức khỏe và thậm chí đe doạ tính mạng. Do vậy, việc nâng cao ý thức phòng ngừa, tầm soát sớm và điều trị đúng cách là vô cùng cần thiết. Hãy chủ động bảo vệ sức khỏe bản thân bằng cách tiêm phòng đầy đủ các loại viêm gan có vắc xin, thực hành lối sống lành mạnh, hạn chế sử dụng rượu bia, chất kích thích và quan trọng nhất là đi khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm và điều trị kịp thời các bệnh lý về gan.