Sau nhiễm Covid người bệnh có thể hồi phục hoàn toàn nhưng cũng có thể gặp biến chứng và di chứng nặng nề ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe. Viêm cơ tim hậu Covid (viêm cơ tim kéo dài) là một trong những hệ quả nghiêm trọng nhất do Covid nhưng vẫn chưa được đánh giá đầy đủ. Nó có thể dẫn đến suy tim và tử vong nếu tiến triển nặng. Hãy cùng ECO Pharma tìm hiểu chi tiết ngay sau đây.

Đại dịch Covid-19 đã kết thúc vài năm nhưng những hậu quả mà nó gây ra vẫn là nỗi ám ảnh nặng nề cho nhân loại. Hàng triệu người đã tử vong bởi độc tính của virus SARS-CoV-2, hàng triệu người may mắn phục hồi nhưng vẫn phải sống chung với di chứng dai dẳng.
SARS-CoV-2 – một loại virus độc lực cao lây truyền qua đường hô hấp được phát hiện đầu tiên ở Vũ Hán, Trung Quốc sau đó nhanh chóng lây lan ra khắp thế giới và bùng phát thành đại dịch Covid-19 toàn cầu. Ban đầu nhiễm SARS-CoV-2 được coi là một bệnh về đường hô hấp nhưng sau đó loại nhiễm trùng này cũng được phát hiện có thể ảnh hưởng đến toàn hệ thống cơ thể. Những hậu quả nghiêm trọng ngoài hô hấp mà nó có thể gây ra như suy tim, viêm cơ tim, huyết khối tắc mạch, rối loạn chức năng đa cơ quan, nhiễm trùng huyết và các ảnh hưởng khác ở hệ thần kinh, thính lực, da, tóc, thậm chí cả nội tiết.
Các triệu chứng kéo dài nhiều tháng sau nhiễm trùng cấp tính do SARS-CoV-2 được gọi là hội chứng Covid kéo dài hoặc hội chứng hậu Covid-19. Và viêm cơ tim hậu Covid nằm trong nhóm hội chứng này, nó có thể gây tử vong nếu tiến triển thành rối loạn chức năng tâm thất và suy tim. Đây là một dạng tổn thương cơ tim thứ phát khiến các tế bào cơ tim bị phá hủy, làm suy giảm chức năng co bóp và dẫn đến rối loạn nhịp tim.
Đến nay cơ chế bệnh sinh của viêm cơ tim hậu Covid vẫn chưa được biết đầy đủ nhưng các nghiên cứu cho rằng có liên quan đến thụ thể ACE2 – một loại protein đa chức năng trong cơ thể người. ACE2 là thụ thể của vật chủ, nó cho phép SARS-CoV-2 xâm nhập vào tế bào để bắt đầu quá trình nhiễm trùng bằng cách liên kết với protein gai của loại virus này. Một số nghiên cứu cho thấy thụ thể ACE2 rs2285666 có liên quan mật thiết đến cả xác suất xuất hiện các triệu chứng Covid-19 kéo dài và tỷ lệ mắc bệnh Covid kéo dài tích lũy. (1)
Ngoài ra các nghiên cứu còn chỉ ra rằng SARS-CoV-2 có thể gây viêm cơ tim kéo dài thông qua các cơ chế:
Thật khó để có thể tự nhận biết viêm cơ tim sau nhiễm Covid. Bởi các triệu chứng Covid kéo dài có thể là triệu chứng chồng chéo của nhiều loại tổn thương ở các cơ quan khác nhau. Nhưng theo các nhà nghiên cứu bệnh có thể biểu hiện đa dạng từ các triệu chứng nhẹ như mệt mỏi, hạn chế vận động, đau ngực, khó thở đến các biểu hiện nghiêm trọng hơn như rối loạn nhịp tim (tim đập nhanh hoặc chậm hoặc lúc nhanh lúc chậm), các triệu chứng sốc tim cấp tính hoặc đột tử do tim. Một số người cũng có các triệu chứng mơ hồ hơn như buồn nôn và nôn, tiêu chảy, đau cơ, đau đầu.
Ngoài ra viêm cơ tim liên quan đến Covid dường như thường xảy ra sau giai đoạn cấp tính của nhiễm SARS-CoV-2. Người bệnh thường không có triệu chứng hô hấp tại thời điểm chẩn đoán viêm cơ tim do SARS-CoV-2.

Nhiều nghiên cứu cho thấy một số nhóm đối tượng có nguy cơ mắc viêm cơ tim hậu Covid cao hơn như:
Hậu Covid bị viêm cơ tim có thể dẫn đến các thay đổi lâu dài ở tim nếu tình trạng viêm không được phát hiện, can thiệp và theo dõi đúng cách. Những hậu quả liên quan đến tổn thương tim kéo dài do Covid cuối cùng có thể dẫn đến suy tim và tử vong, bao gồm:
Để chẩn đoán viêm cơ tim do Covid Corona điều quan trọng là cần khai thác tiền sử nhiễm Covid và các triệu chứng từng gặp phải hoặc từng được chẩn đoán trước đó và các triệu chứng đang gặp phải; đồng thời thực hiện nhiều xét nghiệm khác nhau để tìm dấu ấn SARS-CoV-2, dấu ấn viêm và phân biệt với các tình trạng khác.
Theo Sciencedirect – Cơ sở dữ liệu học thuật trực tuyến hàng đầu của nhà xuất bản Elsevier (Anh – Hà Lan) siêu âm tim qua thành ngực được lựa chọn hàng đầu để điều tra viêm cơ tim liên quan đến Covid. Siêu âm tim qua thành ngực giúp ước tính chức năng và cấu trúc tim; nó cũng hỗ trợ đánh giá sớm bệnh tim và giúp theo dõi rộng rãi cho đến giai đoạn hồi phục. Ngoài ra dấu ấn sinh học mới trong huyết thanh cũng có thể dự đoán các đặc điểm lâm sàng tim mạch liên quan đến hội chứng Covid kéo dài. Vì vậy thực hiện các phương pháp đánh giá khách quan có thể hữu ích.
Theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán viêm cơ tim loại này là sinh thiết nội tâm màng và chụp cộng hưởng từ tim với chẩn đoán xác định Covid. Nếu không có sẵn các xét nghiệm này thì các xét nghiệm khác như điện tâm đồ, siêu âm tim và các chỉ số viêm cũng có thể hữu ích.
Nhìn chung chẩn đoán viêm cơ tim hậu Covid không phải là một loại chẩn đoán thường quy vì vậy chỉ định phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm lâm sàng của cá nhân các bác sĩ và bệnh trạng ở cá nhân cụ thể.

Việc điều trị viêm cơ tim hậu Covid phụ thuộc vào thời điểm khởi phát, triệu chứng và biến chứng. Theo các nhà nghiên cứu vẫn còn rất nhiều điều chưa chắc chắn trong điều trị loại viêm cơ tim này nhưng điều trị hỗ trợ là chủ đạo, có thể bao gồm liệu pháp oxy, thuốc lợi tiểu, steroid, truyền dịch tĩnh mạch và thuốc kháng virus như nirmatrelvir/ritonavir và molnupiravir, remdesivir.
Trong giai đoạn cấp tính những bệnh nhân trở nặng có các triệu chứng suy tim cấp tính có thể điều trị bằng truyền dịch tĩnh mạch (IV), liệu pháp oxy và thuốc lợi tiểu. Đối với những bệnh nhân mắc bệnh nặng hơn có thể hỗ trợ bằng thuốc co mạch hoặc thuốc tăng co bóp cơ tim. Ngoài ra ở những bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim thuốc chẹn beta có thể hữu ích nhưng có thể gây sốc tim vì vậy cần phải kiểm tra kỹ lưỡng tình trạng lâm sàng.
Viêm cơ tim sau Covid không thể phòng ngừa tuyệt đối, tuy nhiên nhiều biện pháp có thể giúp giảm nguy cơ xảy ra và giảm mức độ nặng của bệnh.
Các biện pháp được khuyến cáo gồm:

Viêm cơ tim hậu Covid có cơ chế phức tạp và chưa được biết đến đầy đủ. Tính đến thời điểm hiện tại (2026) vẫn chưa có phác đồ chẩn đoán và điều trị thường quy cho loại bệnh này mà chủ yếu là cá thể hóa dựa trên các nguyên tắc chung của viêm cơ tim. Vì vậy các thông tin trong bài viết chỉ hỗ trợ kiến thức mang tính chất tham khảo và không thay thế cho quyết định lâm sàng của bác sĩ trong từng trường hợp cụ thể.