Viêm gan B là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến có khả năng tấn công và làm tổn thương tế bào gan. Ở giai đoạn đầu bệnh ít biểu hiện rõ ràng nên dễ bị bỏ qua dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí đe dọa tính mạng người bệnh. Bài viết dưới đây sẽ tổng hợp các biến chứng viêm gan B thường gặp giúp bạn nhận biết sớm và phòng ngừa hiệu quả, cùng ECO Pharma tìm hiểu.

Viêm gan siêu vi B được xem là kẻ giết người thầm lặng vì thường không có triệu chứng rõ rệt, chỉ âm thầm tiến triển gây ra nhiều biến chứng viêm gan B nghiêm trọng. Một số người nhiễm có thể tự đào thải virus viêm gan B (HBV) ra khỏi cơ thể một cách tự nhiên. Tuy nhiên, khoảng 15 – 25% người nhiễm HBV sẽ mắc bệnh gan mạn tính, gây gia tăng nguy cơ tổn thương gan, xơ gan và ung thư gan. Nguy cơ này càng cao hơn nếu mắc bệnh lúc tuổi đời càng trẻ, đặc biệt trong thời thơ ấu. Ước tính 90% trẻ sơ sinh bị nhiễm virus HBV sẽ bị nhiễm virus mạn tính.
Mối nguy hiểm tiềm ẩn của bệnh viêm gan B đối với sức khỏe người bệnh xuất phát từ các biến chứng như:
Xơ gan là hậu quả của quá trình viêm gan mạn tính kéo dài khiến mô gan bị sẹo hóa. Khi tế bào gan bị thay thế bởi mô xơ sẽ cản trở dòng máu qua gan và gây ra các triệu chứng như cổ trướng, vàng da, phù chân, giãn tĩnh mạch thực quản hoặc nôn ra máu. Theo một nghiên cứu trên Tạp chí Nghiên cứu Miễn dịch học (Immunology Research Journal) năm 2021, khoảng 15 – 40% bệnh nhân bị viêm gan B mạn tính dự kiến sẽ tiến triển thành xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan. (1)

Suy gan là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất của viêm gan B. Khi virus tấn công ồ ạt, tế bào gan bị phá hủy nhanh chóng sẽ khiến gan không thể đảm nhận chức năng chuyển hóa và thải độc. Tác hại của viêm gan B lên toàn thân thể bao gồm vàng da nặng, buồn nôn, rối loạn ý thức do hôn mê gan. Đây là giai đoạn nguy hiểm, nguy cơ tử vong rất cao nếu không được điều trị. Người bệnh cần được chăm sóc tích cực. Theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH), khoảng 40% người mắc viêm gan B mạn tính khi còn trẻ không được điều trị sẽ bị xơ gan, suy gan hoặc ung thư biểu mô tế bào gan. (2)
Ung thư gan là biến chứng nghiêm trọng và phổ biến nhất của viêm gan B mạn tính. Virus HBV làm tăng tác dụng của chất gây ung thư để thúc đẩy hình thành ung thư gan. Theo Quỹ viêm gan B (Hepb) nguy cơ mắc ung thư gan hàng năm ở những người bị viêm gan B lần lượt là dưới 1% ở những người không bị xơ gan và 2 – 4% ở những người bị xơ gan. Trong khi đó nguy cơ ung thư gan ở các bệnh nhân bị nhiễm từ khi sinh ra, không được can thiệp y tế có thể có tới 25% vào bất kỳ thời điểm nào trong đời. (3)
Bệnh não gan là tình trạng rối loạn chức năng não xảy ra khi gan không còn khả năng loại bỏ các độc chất trong máu, đặc biệt là amoniac. Khi gan suy yếu các chất độc này sẽ tích tụ và ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương gây ra thay đổi hành vi, nhận thức và tri giác ở người bệnh. Theo NIH bệnh não gan là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở bệnh nhân xơ gan mất bù liên quan đến viêm gan B. (4)
Viêm gan B có thể dẫn đến viêm cầu thận thông qua sự lắng đọng của các phức hợp miễn dịch trong cầu thận. Tổn thương thận có thể biểu hiện bằng các triệu chứng như máu trong nước tiểu, huyết áp cao, phù tứ chi và suy giảm chức năng thận. Các loại viêm cầu thận bao gồm bệnh thận màng (cầu thận màng), viêm cầu thận tăng sinh màng và bệnh thận IgA. Một loạt nghiên cứu gần đây ở 390 bệnh nhân mắc bệnh lý thận màng cho thấy 12% có nguyên nhân cơ bản từ HBV. (5)

Ở người khỏe mạnh, tĩnh mạch cửa dẫn máu từ các bộ phận như ruột, dạ dày, lách và tụy về gan để chuyển hóa dinh dưỡng và loại bỏ độc chất. Khi mắc bệnh viêm gan B mạn tính, mô gan sẽ dễ bị xơ hóa. Các sợi xơ này chèn ép mao mạch trong gan khiến quá trình lưu thông máu bị cản trở.
Tăng áp lực tĩnh mạch cửa là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của viêm gan B mạn tính. Tình trạng này khiến dòng máu từ hệ tiêu hóa không thể lưu thông dễ dàng qua gan dẫn đến áp lực tăng cao trong hệ tĩnh mạch cửa và gây ra hàng loạt rối loạn nguy hiểm như cổ trướng, giãn tĩnh mạch thực quản và lách to.
Đồng nhiễm virus là một trong những biến chứng phức tạp khiến quá trình điều trị bệnh viêm gan B ngày càng trở nên khó khăn. Tình trạng này xảy ra khi người bệnh nhiễm thêm các loại virus khác như viêm gan D (HDV), viêm gan C (HCV) hoặc HIV. Tình trạng này có thể làm tăng tốc độ tổn thương gan, giảm hiệu quả điều trị và gia tăng nguy cơ xơ gan hoặc ung thư gan.
Đặc biệt là viêm gan D vì tình trạng đồng nhiễm hoặc bội nhiễm này khiến tổn thương gan ngày càng nghiêm trọng hơn. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) viêm gan D mãn tính được xem là dạng viêm gan siêu vi mãn tính nghiêm trọng nhất vì tiến triển nhanh chóng dẫn đến ung thư biểu mô tế bào gan và tử vong. Chương trình chuyên khảo của IARC gần đây đã phân loại HDV là tác nhân gây ung thư ở người (nhóm I). (6)
Quá trình dẫn đến biến chứng viêm gan B gồm hai phần chính:
Virus viêm gan B xâm nhập và gián tiếp tấn công các tế bào gan trong cơ thể khiến hệ miễn dịch tự “chiến đấu” mới là nguyên nhân gây tổn thương gan. Các tế bào T gây độc nhận diện tế bào gan nhiễm virus là “lạ” và tiêu diệt chúng để loại bỏ HBV. Tuy nhiên khi phản ứng này kéo dài sẽ gây viêm gan mạn tính dẫn đến quá trình hoại tử và tái tạo không kiểm soát. Theo thời gian các tế bào bị viêm và hoại tử được thay thế bằng mô sợi collagen khiến cấu trúc gan bị thay đổi dẫn đến xơ hóa gan. Khi xơ gan tiến triển, lưu thông máu bị cản trở sẽ dẫn đến tăng áp lực tĩnh mạch cửa, cổ trướng, giãn tĩnh mạch thực quản và suy gan.
Không phải tất cả mọi người bị viêm gan B đều tiến triển thành bệnh gan nặng. Mức độ tổn thương sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ xơ hóa và khả năng tái tạo mô gan. Một số yếu tố thúc đẩy biến chứng viêm gan siêu vi B phổ biến như môi trường và lối sống, người lạm dụng bia rượu, hút thuốc lá sẽ làm tăng tốc độ xơ gan và ung thư gan; trong khi béo phì, gan nhiễm mỡ, đái tháo đường làm tăng nguy cơ tổn thương tế bào gan nghiêm trọng hơn.

Hoặc yếu tố virus, tải lượng HBV DNA cao (>10⁴ IU/mL) làm tăng nguy cơ xơ gan và ung thư gan; đột biến gen virus khiến hệ miễn dịch khó kiểm soát HBV dẫn đến thúc đẩy tổn thương gan; đồng nhiễm HDV, HCV hoặc HIV làm phản ứng viêm dữ dội hơn và tiến triển nhanh hơn (7). Ngoài ra yếu tố vật chủ (người bệnh) cũng thúc đẩy biến chứng viêm gan siêu vi B. Người bệnh có hệ miễn dịch yếu hoặc rối loạn miễn dịch khiến virus tồn tại lâu dài trong gan; trong khi trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ chuyển sang thể mạn cao hơn (90%) so với người lớn (5 – 10%).
Các biến chứng viêm gan B đều có tính chất đe dọa sức khỏe vì vậy người bệnh cần có biện pháp phòng ngừa hiệu quả từ sớm, đặc biệt là trẻ sơ sinh và trẻ em. Bên cạnh điều trị tích cực theo phác đồ cá thể hoá, người trưởng thành nên bổ sung tinh chất hỗ trợ gan chuyên biệt Wasabia và S. Marianum (cây kế sữa). Hai tinh chất này đã được nghiên cứu có khả năng kích hoạt Nrf2 giúp tăng sản xuất các enzyme chống oxy hóa nội sinh, hỗ trợ giảm viêm, chống tổn thương tế bào gan và tái tạo tế bào gan mới. Các nghiên cứu cho thấy cơ chế hoạt hóa Nrf2 có góp phần đáng kể trong việc bảo vệ gan khỏi stress oxy hóa và độc chất, góp phần giảm tiến triển xơ gan và ung thư gan ở người có bệnh gan mạn tính.